Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoa - biểu tượng của các nước. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoa - biểu tượng của các nước. Hiển thị tất cả bài đăng

Hoa súng - biểu tượng của Thái Lan



Giới (regnum): Plantae
(không phân hạng): Angiospermae
(không phân hạng): xem Nymphaeales
Bộ (ordo): Nymphaeales
Họ (familia): Nymphaeaceae
Chi (genus): Nymphaea
Gồm các loài:
Nymphaea alba – Súng trắng châu Âu
Nymphaea amazonium
Nymphaea ampla
Nymphaea blanda
Nymphaea caerulea – Súng xanh Ai Cập
Nymphaea calliantha
Nymphaea candida
Nymphaea capensis – Súng xanh Cape
Nymphaea citrina
Nymphaea colorata
Nymphaea elegans
Nymphaea fennica
Nymphaea flavovirens
Nymphaea gardneriana
Nymphaea gigantea – Súng Australia
Nymphaea heudelotii
Nymphaea jamesoniana
Nymphaea lotus – Súng trắng Ai Cập
Nymphaea lotus termalis
Nymphaeae lutea – Súng vàng hay súng Brandy
Nymphaea macrosperma – Súng Australia
Nymphaea mexicana – Súng vàng
Nymphaea micrantha
Nymphaea odorata – Súng thơm
Nymphaea pubescens -Súng trắng
Nymphaea rubra – Súng đỏ Ấn Độ
Nymphaea rudgeana
Nymphaea stellata – Súng lam (quốc hoa của Sri Lanka)
Nymphaea stuhlmannii
Nymphaea sulfurea
Nymphaea tetragona – Súng lùn hay súng Pygmy
Nymphaea tuberosa



Hoa súng (Nymphaea stellata Willd), tên khác là củ súng, súng lam (súng còn có tên theo chữ Hán là Thùy Liên) là một cây thảo sống ở nước trong các ao hồ, đồng chiêm trũng, kênh rạch. Thân rễ ngắn mang nhiều củ nhỏ. Mùa hoa súng vào tháng 5-6.
Chi Súng (danh pháp khoa học: Nymphaea) là một chi chứa các loài thực vật thủy sinh thuộc họ Súng (Nymphaeaceae). Tên gọi thông thường của các loài trong chi này, được chia sẻ cùng với một số chi khác trong họ này, là súng. Các lá của chi Nymphaea có vết khía chữ V nối từ mép lá tới cuống lá oiử khu vực trung tâm. Chi này có khoảng 50 loài, với sự phân bổ rộng khắp thế giới (Chi này có quan hệ họ hàng gần với chi Nuphar, chúng khác nhau ở chỗ là các cánh hoa của chi Nymphaea lớn hơn nhiều so với các lá đài của đài hoa, trong khi ở chi Nuphar thì các cánh hoa lại nhỏ hơn so với các lá đài màu vàng (4-6 lá). Quả khi chín cũng khác nhau, với quả của chi Nymphaea chìm xuóng dưới mặt nước ngay sau khi hoa khép lại, trong khi quả của chi Nuphar lại ở trên mặt nước cho đến khi chín).



Hoa súng còn được coi là "Nữ thủy thần", hoa vẫn nở và khép lại theo ánh mặt trời. Mặt trời vừa hé sáng, "nàng" thức giấc. Đến chiều mặt trời lặn, "nàng" đắng chìnm trong giấc ngủ, vì vậy người ta còn gọi là "hoa ngủ" (^_^ cũng hay hay chớ bộ). Trong tiếng Hán, Thùy có nghĩa là ngủ, Liên là hoa sen. Nên mới gọi hoa súng là Thùy Liên.
Thực ra hoa súng không thật sự đi ngủ mà là phản ứng nhạy bén với ánh nắng. Khi nắng chiếu vào hoa súng "cụp", phần ngoìa chịu tác động của nắng, sinh trưởng chậm lại. Lớp trong chưa nhận nắng nên tốc độ sinh trưởng nhanh hơn. Vì vậy mà ở trong "thúc" ra, thành ra hoa nở. Buổi chiều ngược lại với sáng, cánh hoa ở trong nhận được nhiều ánh sáng hơn, sinh trưởng chậm lại, cánh ngoài bị che khuất nên sinh trưởng nhanh hơn, dần dần vượt cánh ở trong. Thế là "đi ngủ".



Thái Lan là nước trên 90% dân số theo đạo Phật. Hoa sen, hoa súng được coi là loại hoa nhà chùa, tượng trưng cho điềm lành. Tín đồ đạo Phật cho rằng hoa súng là loài hoa đẹp nhất nên Thái Lan coi hoa súng là biểu tượng của nước mình.
Có khoảng 40 giống hoa phân bổ ở vùng ôn đới và nhiệt đới. Châu Âu và Ai Cập có súng trắng (Súng trắng Ai Cập - Nymphaea lotus - lại nở hoa vào buổi đêm và khép lại vào buổi sáng) (hổng biết cơ chế chỗ này thế này, chác là nó ngược với giống bình thường đó ^_^). Ấn Độ có súng đỏ và lam (Súng xanh Ai Cập - Nymphaea caerulea - nở hoa vào buổi sáng và sau đó chìm xuống dưới mặt nước vào lúc chiều tối). Mehico có súng vàng dáng vẻ rất đẹp. Mỹ và Mũi Hảo Vọng (ở tận cùng Châu Phi)có loại súng trắng rất thơm. Ngoài Thái Lan thì Ai Cập cũng rất tôn sùng hoa súng, dặc biệt súng trắng.



HOA SÚNG: VỊ THUỐC BỔ THẬN, AN THẦN
Theo kinh nghiệm dân gian, hoa súng thu hái khi mới nở, dùng tươi hay phơi khô, 15-30g sắc với 200ml nước còn 50ml, uống làm 1 lần trong ngày để an thần chữa mất ngủ. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác theo công thức sau: hoa súng 15g, tâm sen 10g, hoa nhài 10g. Tất cả sấy khô, tán nhỏ, hãm uống làm 2 lần trong ngày.

Để chữa viêm bàng quang, đái rắt, dùng hoa súng 15g, râu ngô 15g, rễ cỏ tranh 10g, rau má 10g, diếp cá 10g, sắc lấy nước đặc uống làm 2 lần.

Từ lâu, những người làm thuốc y học cổ truyền đã dùng rễ hoa súng thay thế khiếm thực (Euryale ferox Salisb.) là một vị thuốc bắc. Dược liệu là những củ nhỏ mọc bám xung quanh thân rễ, có vị ngọt nhạt, bùi hơi béo, tính mát, không độc, có tác dụng đối với các chứng bệnh do thận hư thần kinh suy nhược, mộng tinh, di tinh, hoạt tinh, đau lưng, ù tai, viêm ruột mạn tính, phụ nữ khí hư, trẻ em đái dầm. Cách dùng như sau: rễ hoa súng thu hoạch về, cạo bỏ vỏ ngoài, rửa sạch, thái mỏng, phơi khô, rồi sao qua. Quả kim anh cạo hết gai, bổ đôi, nạo sạch hạt và lông, sao vàng. Lấy mỗi thứ 15g tán nhỏ, rây bột mịn hoặc trộn với mật ong làm viên. Mỗi ngày uống 10-20g, chia làm 2 lần.

Có thể dùng đơn thuốc bổ thận gồm rễ củ súng 40g, thục địa 40g, thạch hộc 30g, hoài sơn 30g, táo nhân 20g, tỳ giải hoặc thổ phục linh 20g. Thục địa thái mỏng, chưng cách thủy cho mềm, tán nhuyễn. Các dược liệu khác phơi khô, sao vàng, tán bột mịn, rồi trộn với thục địa và mật ong làm thành viên. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 12g.

Hoặc rễ hoa súng 20g, ba kích, cẩu tích, tỳ giải (tẩm rượu sao), hà thủ ô (chế với đậu đen), ngưu tất, mỗi vị 12g, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày.

Trong dân gian, rễ hoa súng nấu chè ăn có tác dụng giải cảm, nhất là cảm nắng. Rễ hoa súng phơi khô, nấu với nước 2 lần, rồi cô thành cao, thêm đường làm sirô uống để chữa ho, rát cổ, sốt cao.



Sự tích Hoa Súng Trắng
Làng đang bước vào mùa cưới. Và cũng chẳng nên ngạc nhiên khi Lucun, chàng trai sởi lởi và đáng yêu nhất vùng lại kết hôn với Lilia, người con gái hay lam hay làm, dễ thương nhất ở làng ấy. Thật quả là trai tài gái sắc.

Nhưng thời ấy có một con quỷ sông lang thang đây đó, chuyên nghề phá vỡ hạnh phúc của những đôi tân hôn. Một buổi chiều lucun ngồi trên bờ hồ chờ đợi Lilia đáp thuyền từ bên kia sông vượt sang. lucun đến trước, ngồi trên một gốc cây mơ màng nghĩ về niềm hạnh phúc lớn lao của mình. Vừa lúc ấy có một người lạ mặt tiến tới gần, lặng lẽ ngồi xuống một bãi cỏ ngay gần chàng và bắt chuyện.

Chờ đợi mãi mà chẳng thấy Lilia, lucun nghĩ rằng có lẽ người yêu đã quên mất cuộc hẹn hò, đôi tay chàng thốt nhiên run rẩy. Người lạ mặt tỏ ra rất tinh ý liền rút trong tay áo ra một cái chai, đưa cho lucun và nói rằng, đây là một phương thuốc chữa bệnh sầu não rất hiệu nghiệm.

- Chàng hãy uống thử một ly, chàng sẽ thấy tâm hồn thanh thản ngay - Người lạ mặt vừa nói vừa rót ra một ly rượu - một thứ thuốc độc và mời lucun thưởng thức.

Thế là nỗi sầu muộn dường như tan biến. Chàng lại cười nói minh mẫn như thường lệ. Chàng nghĩ: nàng đến chậm có thể vì còn bận nhiều việc nhà.



Lát sau, người lạ mặt lại rót ra một ly rượu nữa, lần này là một ly rượu đầy tràn, chuốc cho lucun say mèm. Bây giờ đây chàng còn muốn nhảy múa ca hát nữa. Và Lilia trong khi ngồi trên thuyền vượt hồ nước đã nghe tiếng hát của lucun vẳng lại từ xa:
ở đây ta uống, ở đây ta chơi....

- Chàng làm sao vậy? - Lilia lo lắng tự hỏi. Nàng không thể hiểu đợc lucun đã kiếm đâu ra rượu độc, bởi lẽ người lạ mặt đã biến mất không để lại dấu vết.

Một tuần lễ sau, khi trên đường từ nhà người yêu trở về, lucun lại gặp người lạ mặt. Trông dáng vẻ chàng buồn rầu, không được tự nhiên. Thì ra là chàng mới bị bà mẹ vợ tương lai quở trách vì tội đã nhảy múa, hát hò, gây ồn ào một buổi chiều nọ. Người lạ mặt săn đón, hỏi dò vì sao chàng lại buồn, và chàng đã không giấu diếm gã nỗi lòng mình. ồ, chẳng việc gì phải buồn, ai mà chẳng biết được mụ phù thuỷ và bà mẹ vợ kia thực ra chỉ là một, chỉ cần nhắp một chút rượu thuốc này thôi là bao nhiêu nỗi buồn sẽ tiêu tan hết. lucun lại uống và càng uống nhiều, chàng càng cảm thấy trong người phấn chấn hơn. Chàng cứ tiếp tục uống nữa, uống mãi. Sáng ra, người nhà tìm thấy chàng đang nằm gục bên bờ giếng, chỗ đàn ngựa hay uống nước.

Cứ thế, mỗi lần lucun gặp chuyện bất hạnh gì đấy, người lạ mặt lại xuất hiện với cái chai cầm trên tay. Có bận Lilia tìm thấy người tình của mình nằm trên bờ hồ, toàn thân lấm lem và đang rên rỉ. Nàng gạn hỏi chàng rất lâu, cho tới khi lucun phải thú nhận rằng, chàng đã uống quá nhiều rượu của một ngời lạ mặt. Lilia hết lời van xin chàng hãy xua đuổi con quỷ rượu kia đi và tìm cách vượt qua nỗi bất hạnh của mình.

lucun hứa sẽ làm theo đúng lời nàng dặn. Còn người lạ mặt dường như đã nghe được câu chuyện giữa hai người nên không dám bén mảng đến nữa. Tuy vậy gã vẫn lén lút dúi chai rượu khi thì vào túi áo, khi thì đặt dưới gối lucun. Ðối với lucun nếu không uống thì anh sẽ mất ngủ và trong đầu luôn luôn quay cuồng câu hỏi: lấy đâu ra tiền để mua sắm áo cưới và tổ chức yến tiệc?



Chỉ còn đúng ba ngày nữa là tới đám cưới; hôm ấy, sau khi đã chờ đợi vô ích lucun trên bờ hồ, Lilia bèn đích thân đi xem xét tại sao chàng lại không tới. Ngôi nhà và mảnh sân đã bị màn đêm bao phủ, từ phía cửa ra vào hé mở lọt ra một tia sáng xanh leo lét, Lilia tiến lại gần. Chuyện gì thế kia? Trên nắp thùng rượu, lucun và - lạy Chúa! - một người nữa đang đánh cờ. Chẳng lẽ lucun lại không nhận ra kẻ đang ngồi đối diện với chàng kia là một con quỷ lông xù tai dài, có cặp sừng và đang gõ gõ cái móng ngựa xuống nền nhà bằng đất sét đó sao? Từ trong đôi mắt ứa máu của quỷ phát ra một tia sáng xanh leo lét, lucun không nhận ra điều đó sao?

- át chủ bài! - Quỷ hét

Quỷ đã thắng và giơ bàn tay ra:

- Ðưa chiếc nhẫn đây!

Còn lucun? Chàng đang tháo chiếc nhẫn, quà tặng của vợ, đưa cho quỷ.

Lilia toan hét lên, song vì sợ hãi và giận dữ, cổ họng nàng cứ tắc nghẹn lại.

- Tao cược một chai nữa - tiếng quỷ la - Mày cược gì?

- Tôi chẳng còn gì nữa cả - lucun phàn nàn - Tôi đã thua trắng tay, cả nhà cửa, của cải, thậm chí đến chiếc nhẫn cưới cũng mất.

- Mày còn cô vợ chưa cưới đó, đưa nàng ra cá cược nốt đi! Quỷ cười.

lucun thốt lên:

- Không được! Khác nào mày rút trái tim trong lồng ngực của tao.

- Hãy uống một hớp đã rồi thỏa thuận sau - Quỷ đưa cho chàng cái chai và lucun đã tu thả sức.

- Cược Lilia nhé - Quỷ hỏi

- Không!

- Cược Lilia nhé?

- Hèm... - lucun thở dài.

- Uống đi!

Uống cạn ngụm rượu thứ ba, lucun thốt lên:

- Ðược! Chẳng lẽ trên thế gian này ngoài nàng ra không còn gái đẹp nữa sao?

Một tiếng rên thốt ra từ lồng ngực Lilia:

- lucun, anh làm gì thế?

Nàng chạy lại bên hồ, đôi chân rướm máu. Nhưng những vết thương này làm sao có thể so sánh được với nỗi đau đang dày vò lương tâm nàng. Nàng không hề mảy may có ý nghĩ rằng trên đời này ngoài lucun nàng còn có nhiều chàng trai khác. Không, nếu lucun coi rượu của quỷ quý giá hơn cả nàng thì nàng chẳng nên sống làm gì. Thà nhảy xuống hồ tự vẫn còn hơn.

Sau khi bơi thuyền đến hồ, Lilia thốt lên:

- Vĩnh biệt tuổi thanh xuân của ta!

Nàng gieo mình xuống nước và ở lại đó vĩnh viễn, còn con thuyền thì bị gió đánh bạt sang bờ khác.

Ðến lúc này, lucun mới hiểu rằng chàng đã đánh mất hạnh phúc của mình. Ngày nào chàng cũng đến ngồi bên hồ và chờ đợi một điều gì đó, hy vọng một điều gì đó, cùng với nỗi lòng chàng đầy phiền muộn và tiếc thương.

Nhưng một hôm, đúng lúc vào ngày lễ thánh, chàng nhìn thấy một bông hoa trắng trôi nổi, bập bềnh trên mặt nớc, và không hiểu tại sao chàng cứ đinh ninh đó là Lilia, người vợ chưa cưới của chàng đã mất tích ba ngày trước khi cưới. Và chàng nghe có lời ca vang xa trên hồ nước:

Ðó là người bạn đời của ta
Nhưng liệu có lời đáp lại không?
Không, chàng lại nghe rành rọt những lời sau:
Thà ở lại vĩnh viễn đáy hồ
Còn hơn trong vòng tay ôm ấp của chàng

Ðó chính là Hoa Súng Trắng - Hoa của hồ nước

~ 17/10/09 0 nhận xét

Hoa hồng gai (mai quế) - biểu trưng của Anh, Mỹ

Người Anh và người Mỹ coi hoa hồng là hoa tình bạn và tình yêu, bao giờ cũng tặng hoa hồng để bày tỏ tình. Họ phong hoa Hồng là Nữ hoàng trong các loại hoa.
Thời trung cổ, nước Anh gây "cuộc chiến hoa hồng" vì khi đấnh nhau bên bào cũng lấy hoa hồng làm biểu trưng cảu mình. Về sau hoa hồng làm biểu trưng của Scotland và Anh. Trên cơ sở dò ý nguyện của dân, hạ nghị Viện của Mỹ quyết định biểu trưng của nước Mỹ là hoa hồng vào ngày 23/9/1986. Trước đó nhiều bang của Mỹ cũng đã lấy hoa hồng làm biêu trưng của bang mình.
Hoa hồng gai là cây bụi rụng lá, họ tường vi (Rosaceae), lá kép, dạng lông chim, mặt sau lá có lông nhung dày dày đặc, trên cành nhỏ mọc đầy gai mịn. Hoa hồng được trồng trang trí bồn hoa, biệt thự và cắt cắm lọ trong nhà.


Hoa hồng nhung : Tình yêu say đắm và nồng nhiệt.

Giới (regnum):Plantae
Bộ (ordo):Rosales
Họ (familia):Rosaceae
Phân họ (subfamilia):Rosoideae
Chi (genus):Rosa

một số loài hồng tiêu biểu
• Rosa beauvaisii: hồng Beauvais
• Rosa californica: hồng California
• Rosa canina: tầm xuân
• Rosa chinensis: hồng, hường, nguyệt quý hoa
• Rosa cymosa: hồng roi, tầm xuân
• Rosa gallica: hồng Pháp
• Rosa glauca (đồng nghĩa R. rubrifolia): hồng lá đỏ
• Rosa laevigata (đồng nghĩa R. sinica): hồng vụng, kim anh
• Rosa leschenaultiana: hồng Leschenault
• Rosa longicuspis: hồng mũi dài
• Rosa multiflora: tầm xuân nhiều hoa
• Rosa pimpinellifolia: hồng Scotch
• Rosa rubus: hồng đum
• Rosa rugosa: hồng Nhật, hồng Rugosa Rose
• Rosa transmorissonensis: hồng choắt
• Rosa tunquinensis: tầm xuân Bắc, quầng quầng
• Rosa virginiana (đồng nghĩa R. lucida): hồng Virginia
• Rosa yunnanensis: hồng Vân Nam


Hoa hồng cam : Tình yêu hòa lẫn với ghen tuông.

Hoa hồng gai còn biểu trưng của các nước Châu Âu như: Luxambua, Bungari. Ở Trung Á có Irac, Iran, Syria. Hoa hồng, dầu lửa và thảm Ba Tư là 3báu vật cảu người Iran


Hoa hồng BB : Tình yêu ban đầu.

Hoa hồng trong văn hóa
Với vẻ đẹp, hình dáng và hương thơm nổi bật, hoa hồng là hoa biểu trưng hay được dùng nhất ở phương Tây, tương ứng trong tổng thể với hình tượng hoa sen ở châu Á, cả hai đều gần gũi với biểu tượng bánh xe. Trong văn hóa Ấn Độ, bông hồng vũ trụ Triparasundari được dùng làm vật đối chiếu với vẻ đẹp của người Mẹ thánh thần, biểu thị một sự hoàn mĩ trọn vẹn và không có thiếu sót. Bên cạnh đó, hoa hồng còn tượng trưng cho phần thưởng cuộc sống, tâm hồn, trái tim, tình yêu, và có thể được chiêm ngưỡng như một mandala.


Hoa hồng bạch : Ngây thơ duyên dáng và dịu dàng.

Trong hệ tranh tượng Kitô giáo, hoa hồng hoặc là cái chén hứng máu của Chúa Kitô, hoặc là sự hóa thân của những giọt máu này và thậm chí, là chính vết thương của Chúa.
Hình hoa hồng gôtích và hoa hồng hướng gió (hình hoa hồng 32 cánh ứng với 32 hướng gió) đánh dấu bước chuyển của xu hướng biểu trưng của hoa hồng sang xu hướng biểu trưng bánh xe.
Saadi de Chiraz trong đạo Hồi quan niệm vườn hoa hồng là vườn của sự quán tưởng.


Hoa hồng đậm : Người đẹp kiêu kì

Trong văn hóa phương Tây, hoa hồng, bởi sự tương hợp với màu máu chảy, thường xuất hiện như là biểu tượng của sự phục sinh huyền bí. Abd Ul Kadir Gilani so sánh hoa hồng với những vết sẹo trên cơ thể sống, trong khi đó F. Portal quan niệm hoa hồng vào màu hồng hợp thành một biểu tượng của sự tái sinh do có quan hệ gần gũi ngữ nghĩa của từ latinh rosa (hoa hồng) với ros (mưa, sương). Với người Hy Lạp hoa hồng vốn là một loài hoa màu trắng, nhưng khi Adonis bị tử thương, nữ thần Aphorodite chạy đến cứu chàng đã bị đâm phải một cái gai và máu đã nhuộm thẫm những bông hồng cung tiến nàng. Chính ý nghĩa biểu trưng về sự tái sinh đã khiến con người, từ thời cổ đại, đặt những bông hồng lên các nấm mộ, và Hecate, nữ thần âm phủ đôi khi được thể hiện với hình ảnh đầu quấn một vòng hoa hồng có 5 lá.


Hoa hồng đỏ : Một tình yêu mảnh liệt và đậm đà, tỏ sự hạnh phúc vinh dự.

Theo Bède, ở thế kỷ VII mộ của Chúa Giêxu được sơn một màu pha lẫn trắng và đỏ. Hai yếu tố tạo thành màu của hoa hồng này, màu trắng và màu đỏ, với giá trị biểu trưng truyền thống của chúng phản ánh các bình diện từ trần tục đến thiêng liêng, trong sự khác nhau ứng với sự dâng tặng những bông hồng trắng hay đỏ.
Hoa hồng đã trở thành biểu tượng của tình yêu và còn hơn thế, của sự dâng hiến tình yêu, của tình yêu trong trắng, tương tự ý nghĩa của hoa sen Ai Cập và cây thủy tiên Hy Lạp.


Hoa hồng phớt : Bắt đầu một tình yêu mơ mộng.

Dù là màu trắng hay màu đỏ, hoa hồng cũng đều được các nhà luyện đan ưa chuộng hơn cả, mà những chuyên luận của họ thường mang những tiêu đề như "Những cây hồng của các nhà triết học". Trong khi đó, hoa hồng màu lam lại biểu tượng của cái bất khả, cái không thể đạt tới.
Hoa hồng gai có giá trị kinh tế rất cao. Người ta trồng để chưng cất tinh dầu. Giấ cảu tinh dầu hoa hồng có lúc đắt gấp 5-6 lấno với vàng. Hoa hồng gai còn có tác dụng ngăn bụi, hút các khí độc, làm sạch môi trường.


Hoa hồng thẩm : Tình yêu nồng cháy.

Sự tích hoa hồng

Ngày xửa ngày xưa thật xưa lắm, có một quốc vuơng ở tận phương trời xa xôi bên một khu rừng rộng lớn và rậm rạp. Vương quốc nầy sống thật hòa bình và yên vui sau một thời gian dài triền miên người dân phải đấu tranh để dành quyền độc lập. Và vị anh hùng chỉ huy người dân của quốc gia này đã được dân chúng tôn lên làm vị vua đầu tiên.

Sau thời gian dài chinh chiến, họ chỉ lo an hưởng thái bình và sống cho những quyền lợi của cá nhân mình. Vị hoàng đế kia cũng vậy, ngất ngưỡng trên ngai vàng và hào quang của quyền vị, ông đã bỏ bê việc nước, quên cả chăm sóc cho dân và để mặc lũ bầy tôi tham danh lợi cai trị dân chúng. Vì muốn hoàng đế lảng quên với việc triều chính, bọn tham quan đã chọn một thiếu nữ đẹp tuyệt vời để vua lập làm hoàng hậu . Nhưng trái với ý muốn của bọn quan lại, hoàng hậu lúc nào cũng hết lời khuyên răn nhà vua nên lo cho dân chúng và chỉnh đốn việc triều chính. Lũ quan lại rất ghét hoàng hậu, nhưng không làm gì được vì nhà vua quá thương yêu nàng.


Hoa hồng vàng : Một tình yêu kiêu sa và rực rỡ. Tình yêu sút giảm và sự phản bội tỏ ý cắt đứt quan hệ.

Cho đến ngày kia, sau một thời gian thụ thai, hoàng hậu sinh ra một đứa bé thật kháu khỉnh, dễ thương. Lạ lùng thay, thân thể của đứa bé trai đó lại trong suốt như pha lê, đến độ thấy rõ từng đường gân, mạch máu và trái tim. Thấy cơ hội đã đến, bọn tham quan bèn dèm pha với nhà vua rằng hoàng hậu là một phù thủy trá hình và tuyên truyền tin này ra ngoài cho toàn dân.

Trước áp lực của bầy tôi và sự phản đối của dân chúng, nhà vua đã truất phế hoàng hậu ra khỏi hoàng cung cùng với đứa bé lạ lùng kia. Trở thành một thường dân, hoàng hậu đem con đi khỏi hoàng cung. Đi tới nơi đâu cũng bị dân chúng chửi mắng và xua đuổi. Suốt con đường tìm nơi ẩn trú, hoàng hậu đã bị bao kẻ ném đá, dùng gậy đánh đập mà chỉ biết cắn răng dùng thân thể mình để che chở cho đứa con thơ. Với bao vết thương trên mình, hoàng hậu bồng con đến khu rừng già và ngã ra vì kiệt sức. Nhìn hài nhi mới ra đời trong lúc biết mình sắp chết, hoàng hậu không biết làm gì hơn là đưa tay vuốt ve con mình vài lần, nước mắt tuôn ra và trút hơi thở cuối cùng.

Đứa bé nằm bên mẹ không ai cho ăn nên khóc lên thảm thiết vì cơn đói. Tiếng khóc vang lên tận chín tầng trời làm Thượng Đế động lòng ngó xuống trần gian. Khi thấy hoàn cảnh thương tâm đó, Thượng Đế nổi giận vì lòng tàn ác của người dân vương quốc kia. Ngài bèn sai thiên thần mang đứa bé vô rừng chăm sóc cho nó lớn lên trong tình thương của thiên nhiên và muôn cầm. Sau đó, ngài ban một lời nguyền khiến cho toàn thân thể của từng người dân bị gai nhọn mọc đầy người, để suốt đời không ai được gần gủi ai cho đến khi mọi người biết thương yêu nhau. Từ đó người dân của quốc gia nầy đều mang trên mình một lớp gai, từ vua tôi cho đến hạng bần cùng. Nhưng dù cho lớp gai trên mình ngày một dài và cứng nhọn theo lòng tham ngày càng to lớn, họ cứ sống cho cá nhân mình mặc dù phải trả giá cho lòng vị kỷ đó bằng sự cô đơn khủng khiếp dằn vật tâm linh.

Một ngày kia, nghe tin vương quốc này đang trở nên yếu thế, một quốc gia khác bèn đem quân sang xâm lấn lãnh thổ. Khi quân xâm lăng tràn qua bờ cõi, toàn dân trong nước ai cũng tự lo thân và trốn tránh nghĩa vụ. Nhà vua lúc đó đã lớn tuổi mà vẫn bị lũ bầy tôi tham sống sợ chết làm áp lực bắt đem một toán quân ra chiến đấu. Sức mình thì yếu, sức địch thì mạnh. Sự thất bại đến với nhà vua thật nhanh chóng. Dẫn tàn quân chạy về hoàng thành thì mới hay lũ tham quan đã đem dâng cho giặc tự bao giờ. Phẫn chí, nhà vua quyết liều mình đem quân cố chiếm lại thành trì nhưng cuối cùng phải ngã ngựa vì một mũi tên có tẩm thuốc độc. Nhà vua được một số quân trung thành cứu thoát và chạy trốn đến bên bìa rừng. Nhìn lại binh sĩ lớp bị thương, lớp bỏ mình chung quanh, nhà vua lấy làm hối hận rằng mình đã không nghe lời hoàng hậu khuyên ngày trước. Nhớ đến hoàng hậu, nhà vua lại nhớ đến đứa con thơ vô tội của mình ngày xưa. Rồi nhà vua ngã bệnh vì vết thương hành hạ. Bên ngoài thì địch quân vây khốn, trong rừng thì binh sĩ liều mạng để tử thủ với quân thù. Nhà vua lập đồn trong rừng làm chiến khu và để tập luyện binh sĩ.

Ngày qua ngày, dưới ách đô hộ nghiệt khắc của quân xâm lăng, người dân của vương quốc đó càng nghe đồn thêm về một quốc gia trong khu rừng già huyền bí nọ. Dần dần, người dân tìm cách trốn đi và tìm vào rừng để gia nhập. Phía quân xâm lăng cũng điêu ngoa, họ cho người trà trộn vào trong rừng nhưng kế hoạch không thi hành được vì không thể nào giả mạo được lớp gai cứng mọc trên thân thể của người dân bản xứ. Người dân đã biết đoàn kết để tạo cho khuyết điểm trên thân thể mình thành ưu điểm để chống giặc ngoại xâm. Một ngày kia, với binh hùng tướng mạnh, nhà vua bắt đầu công cuộc dành lại quê hương. Lần nầy, với đoàn quân thiện chiến và với lòng tin thống nhất, nhà vua đã chiếm lại được thành trì và xua đuổi quân xâm lăng ra khỏi lãnh thổ.

Không may, trong trận chiến cuối cùng nhà vua lại bị thương. Vốn đã yếu sức vì tuổi già, lại còn lao lực trong trận chiến dài đăng đẳng, nhà vua bệnh ngày càng thêm nặng. Toàn dân trong nước chưa kịp reo mừng dành lại độc lập đã phải mang nỗi buồn cho tình trạng ngày càng nguy ngập của nhà vua. Biết mình sắp chết, nhà vua trong cơn sốt đã thốt lên rằng:

"Ta chết cũng đành lòng, nhưng trời ơi, sao ta thèm được một lần ôm đứa con mà ta chưa hề biết mặt !..."

Bỗng nhiên có tin báo từ bên ngoài thành có một người thầy thuốc nói sẽ trị hết bệnh cho nhà vua. Cửa hoàng thành rộng mở. Người thầy thuốc bước vào hoàng cung với tấm vải thô che kín thân thể mà không ai nhìn thấy mặt. Khi đến gần giường bệnh, người thầy thuốc đứng lặng yên thật lâu bên nhà vua mà không nói tiếng nào. Khi nghe nhà vua gọi con trong cơn sốt, người thầy thuốc rơi lệ. Giọt lệ nhỏ xuống trên gò má nhăn nheo của nhà vua làm nhà vua thức tỉnh và mở mắt nhìn người đang đứng bên cạnh mình. Khi nhà vua đua tay lên vói, người thầy thuốc bèn nắm chặt lấy tay nhà vua, quì xuống bên cạnh người và nói rằng:

"Thưa phụ hoàng, con đây !".

Rồi người thầy thuốc hất tấm vải thô che mình xuống đất để lộ ra một thân thể trong suốt như pha lê. Để chữa bệnh cho cha, vị hoàng tử nâng vua cha lên và ôm người thật chặt vào lòng, mặc cho những gai nhọn đâm vào người thật sâu. Và máu chàng đã chảy ra. Lạ thay, khi máu của chàng thấm lên thân thể của nhà vua thì nhà vua cũng thấy mình khỏe lại . Và kỳ diệu hơn nữa, lớp gai nhọn trên thân thể nhà vua cũng tan biến dần theo từng giọt máu của vị hoàng tử đổ xuống.

Sau đó vị hoàng tử bèn đặt nhà vua nằm lại trên giường để dưỡng bệnh. Từ từ đứng dậy và bước đến người đứng gần mình nhất, vị hoàng tử ôm lấy người đó và nói:

"Chúng ta hãy thương yêu nhau. Bất cứ hình phạt nặng nề nào của Thượng Đế cũng đều được giảm bớt nếu chúng ta biết chân thành yêu thương nhau".

Rồi cứ thế từ người này sang người khác, chàng đi khắp thành mà ôm từng người một, từ ông lão nghèo nàn đến người thương gia giàu sang, từ em bé tật nguyền đến chàng thanh niên khỏe mạnh. Và cứ thêm mỗi người được ôm thì vị hoàng tử càng yếu dần theo từng giọt máu ứa ra trên thân thể họ. Cho đến lúc kiệt sức, chàng quị xuống bên đường. Tuy vậy, chàng vẫn mở rộng vòng tay kêu gọi mọi người đến cùng chàng mà chia sự sống. Mọi người nức nở khóc trước tình thương bao la của chàng. Những người sau cùng chưa được thoát bệnh đồng quì xuống bên chàng mà nói:

"Chúng tôi xin hoàng tử đừng lao lực thêm nữa. Chúng tôi thành tâm nguyện mang lớp gai này trên mình để người còn được sống cùng chúng tôi".

Lạ thay, từ trên thinh không bỗng có tiếng nhạc thánh thót vang lên và có lời truyền của Thượng Đế phán rằng:

"Lành thay ! Các người hiểu được tình yêu thương chân thật và bỏ đi lòng tị hiềm, ích kỷ. Dám hy sinh bản thân mình cho đồng loại là định nghĩa của yêu thương vậy".

Rồi cùng với thinh âm tan dần vào không gian, các lớp gai trên thân hình của những người còn lại đều biến mất đi. Khi người ta nhìn lại thì vị hoàng tử đang khép mắt lại với lời nói thật hiền hòa thoát ra theo làn hơi thở sau cùng:

"Hạnh phúc là có nhau hôm nay để sống. Yêu thương là biết sống làm sao để ta có nhau ngày mai. Các bạn của tôi ơi, hãy nhớ rằng hạnh phúc không phải là của riêng ta để cho đi hay lấy lại. Hạnh phúc chỉ đến với ta khi ta biết yêu thương lẫn nhau và chia xẻ cho nhau tình thương đó..."

Rồi chàng lìa đời sau câu nói đó. Ngày hôm sau, dưới sự hướng dẫn của nhà vua, toàn dân trong thành đã đưa di thể của chàng xuống lòng đất muôn đời, bên cạnh khu rừng nọ. Lạ thay, khi xác của chàng vừa được chôn dưới lòng đất xong, người ta bỗng thấy có những chim muông, cầm thú kéo thành đoàn từ trong rừng ra nằm quanh ngôi mộ của chàng thật lặng yên và buồn bã. Một năm sau, người ta thấy trên ngôi mộ của chàng và chung quanh khu vực đó mọc lên những bông hoa đỏ tươi như máu với thật nhiều gai nhọn từ gốc đến ngọn. Người ta cho đó là sự kết tinh lại của tình thương của chàng hoàng tử để nhắc nhở cho người đời bài học cao cả nhất về yêu thương và hạnh phúc. Và người ta gọi loài hoa đó là hoa Hồng.

Và mãi mãi đến ngày nay, dù mang nhiều màu sắc khác nhau, loài hoa đó vẫn tượng trưng cho sự yêu thương.


Hồng trắng : Tình yêu trong sáng và cao thượng.


(http://vi.wikipedia.org
http://blog.timnhanh.com
http://my.opera.com
http://vanhoc.xitrum.net
Bách khoa toàn thư tuổi trẻ thiên nhiên và môi trường, nhà xuất bản phụ nữ, 2005)

~ 15/10/09 1 nhận xét

Hoa anh đào - biểu trưng của Nhật

Anh dào là niềm tự hào của người Nhật, cũng giống như ngọn núi vĩ đại fugi, là tượng trưng của sự chuyên cần, dũng cảm, thông minh. Hàng năm cứ đến ngày 15/3 là Tết anh đào của Nhật.



Cây anh đào là cây thân gỗ, rụng lá, họ Tường Vi (Rosaceae) có thể cao tới 16m nhưng trong công viên cắt tỉa chỉ để cao hơn 5m. Hoa nở trước khi ra lá, 5-6 bông nở trên ngọn cành tạo hoa tự tổng ngắn. Có 2 loại: cánh đơn và cánh kép. Loại cánh đơn kết hạt màu đen. Loại cánh kép không kết hạt.

Anh đào Nhật Bản là tên gọi chung của một số giống thực vật trong chi Mận mơ (còn gọi chi Anh đào), thuộc họ Hoa hồng, nhưng không kể mai mơ, đào và hạnh. Các loài cây này trồng chủ yếu để làm cảnh. Loài anh đào cho trái không thuộc nhóm này.

Hoa anh đào có 3 màu là màu trắng, hồng và đỏ. Thời gian tồn tại của một bông hoa anh đào thường kéo dài từ 7 đến 15 ngày, trung bình là khoảng 1 tuần. Tùy theo từng chủng loại hoa và điều kiện môi trường thời tiết mà tuổi thọ của hoa anh đào khác nhau. Loài hoa Someiyoshino có tuổi thọ 7 ngày kể từ ngày mankai (mãn khai, nở rộ) trong khi loài hoa Kanzakura nở và tàn lâu hơn chừng 10~12 ngày kể từ ngày manka.



Hanami ( mùa hoa anh đào) là một từ của người dân Nhật chỉ thời gian xứ Phù Tang đang vào tiết xuân ( cuối tháng 3 đầu tháng 4) .Đây là lúc hoa Anh Đào nở rộ trên khắp mọi nơi trên nước Nhật . HANA có nghĩa là hoa, MI có nghĩa là nhìn, là xem. Hanami diễn giải theo từ Hán-Việt là "hoa kiến" tức là xem hoa, ngắm hoa anh đào nở. Thời gian của Hanami được kéo dài bằng thời gian của mùa hoa anh đào. Đây là khoảng thời gian mà người dân Nhật tụ tập gia đình,thân thuộc,bạn bè tổ chức những buổi dã ngoại ca hát ,ăn uống vui đùa tại những công viên trồng có nhiều hoa anh đào đang nở rộ trắng xóa trên cành..



Ở đất nước Nhật, có tháng 1 giá buốt, tháng 2 lạnh giá; tháng 3 là tháng giao thời giữa đông và xuân .Vào mùa đông cây anh đào trụi lá .Qua 3 tháng buốt lạnh , giữa cái lạnh cuối đông và cái ấm áp đầu xuân, cây anh đào cựa mình, dụi mắt để đón xuân về. Vào tuần lễ cuối tháng 3, cây anh đào bắt đầu đâm chồi nảy lộc, những mầm nụ đã bắt đầu ra nụ. Nụ nằm yên đó chờ cho tiết trời trở ấm thì bung nở ra hoa. Mỗi nụ hoa thường thì cho ra nhiều đóa hoa. Có nụ cho ra 2 đóa , có nụ cho ra đến 4 - 5 đóa anh đào.



Cuống hoa anh đào màu hồng đậm và thân cuống có màu xanh lá. Mỗi đóa hoa chỉ lớn độ 2-3cm và nở sát vào nhau, nhưng điểm đặc biệt nhất của hoa anh đào là mỗi đóa anh đào chỉ có đúng 5 cánh hoa nằm cạnh nhau (mình thấy có vài hình ảnh thì số lượng cánh hoa có thể nhiều hơn) và tạo cho hoa một hình dáng cân đối. Các cánh hoa rất mỏng và mịn, cánh có màu trắng hồng phía ngoài và màu hồng của cánh hoa thường thì đậm hơn về phía nhụy hoa, làm nổi bật các đầu nhụy hoa vàng nằm ngay giữa đóa hoa. Một chút hồng nhạt trên các đầu cánh hoa hay một chút hồng đậm ở dưới cánh hoa cộng với những giọt sương sáng sớm long lanh còn đọng lại trên cánh hoa cũng là những hình ảnh tuyệt vời cho khách yêu hoa và những người săn ảnh nghệ thuật . Khi hoa anh đào nở rộ, thì từ xa người ta chỉ thấy toàn một màu hoa trắng hồng che phủ cả toàn cây.Từ một cây trụi lá mùa đông, hoa anh đào nở bung để làm đẹp đầu xuân và để rồi cũng ra đi trong khi xuân vẫn đang hiện hữu. Hoa đẹp nhất khi đang nở, nhưng hoa anh đào lại cũng đẹp nhất là khi hoa rụng. Đó là bởi khi rụng, hoa anh đào không giống như những loại hoa khác, cuống hoa không vội lìa cành , không rơi rụng cả đóa hoa mà rụng từng cánh hoa một. Năm cánh hoa lần lượt thay phiên nhau nhẹ nhàng rời ra ,tung bay theo gió thổi. Cánh hoa đã nhẹ, đã mỏng, sắc hoa màu trắng hồng tung bay theo làn gió trông như những lúc hoa tuyết nhẹ rơi vào mùa đông Nhật bản. Những lúc ấy, người ta mới cảm nhận được cái đẹp trọn vẹn của hoa anh đào nở.



Một số loại anh đào
Hoa anh đào có rất nhiều loại, từ loại hoa mọc dại trên núi cho đến những loại được lai tạo kỳ công để phục vụ nhu cầu thưởng ngoạn của con người. Sau đây là một vài loại hoa tiêu biểu:

Yamazakura
Thường mọc ở phía Nam của Honshū. Nó còn có một tên gọi khác là Bạch Sơn Sakura. Khi hoa nở thì thường có màu trắng hoặc màu hồng nhạt và mùi hương khá đậm. Đặc điểm của loại hoa này là khi hoa nở cũng là lúc lá đâm chồi nảy lộc

Oyamazakura
Thường mọc ở phía Bắc của Honshū và vùng núi Hokkaido, nó còn có tên gọi khác là Hồng Sơn Sakura (Beniyama Zakura). Loại hoa này có màu hồng đậm hơn, lá và hoa cũng to hơn so với Yamazakura.

Oshimazakura
Oshimazakura có nhiều ở bán đảo Izu. Khi lá đâm chồi nảy lộc cũng là lúc hoa bắt đầu nở và cho mùi hương quyến rũ là đặc trưng của loại hoa này. Khi hết mùa hoa anh đào, người ta thường ngắt lá của loài hoa này ướp một chút muối và dùng để làm vỏ cuốn bên ngoài cơm nắm onigiri hoặc cuốn ngoài một loại bánh dày truyền thống của Nhật. Vì thế loại hoa này mới có tên gọi sakura mochi.

Edohigan
Loại hoa này thường mọc ở vùng núi Honshū, Shikoku và Kyushū. Đặc trưng của loại hoa này là trước khi lá đâm chồi nảy lộc thì những cánh hoa đã vươn mình khoe sắc, chuyển dần từ gam màu trắng sang màu hồng nhạt. Thi thoảng chúng ta bắt gặp đâu đó bên những mặt hồ hay bờ sông có loài hoa rủ xuống yểu điệu, thì đó chính là một trong số những loài hoa này.

Kasumizakura
Kasumizakura mọc rải rác ở các vùng núi từ Hokkaido đến Kyushū. Đặc trưng của loài này là có một lớp lông non bao phủ trên cánh hoa và lá, có lẽ vì thế mà nó có một cái tên khác là Mao Sơn (Keyamazakura). Loại hoa này khi nở cũng chuyển dần từ sắc trắng sang sắc hồng.

Someiyoshino
Là loài hoa pha trộn đặc tính giữa hai loài Oshimazakura và Edohigan. Trên lá non và cánh hoa có lớp lông non bao phủ và khi hoa tàn thì mới là lúc lá đâm chồi nảy lộc. Hoa nở có màu hồng nhạt.
Trong số các loài anh đào thì loại Someiyoshino được trồng nhiều nhất vì loại này hoa lại nở trước rồi mới mọc lá. Cánh hoa cũng to hơn so với các loại khác và nhìn có vẻ đẹp quý phái hơn. Hơn nữa loại hoa này sinh trưởng nhanh, chỉ khoảng 10 năm đã trở thành một cây lớn và cho hoa nở nhanh hơn loại khác. Từ thời kỳ Meiji loại này đã được trồng phổ biến trên khắp nước Nhật.

Quốc hoa Nhật Bản

Với người Nhật, Sakura zensen tượng trưng cho sắc đẹp, sự mong manh và trong trắng, là loại hoa "thoắt nở thoắt tàn" nên được các samurai yêu thích, vì nó tượng trưng cho "con đường chết" của người võ sĩ (sống và chết như hoa anh đào). Khắp nơi trên đất nước Nhật Bản đều có hoa anh đào, đặc biệt ở trong các công viên, ven sông, dọc theo bờ kênh, trong sân các ngôi biệt thự. Ở Nhật Bản, hoa anh đào thường nở vào mùa xuân, tuy từng nơi mà hoa có thể nở sớm hơn hay muộn hơn. Ở miền Nam Nhật ấm áp hơn, hoa có thể nở từ cuối tháng 1 trong khi vùng Hokkaido phía Bắc Nhật Bản, hoa có thể nở vào tháng 5. Do vậy người yêu thích hoa anh đào có thể ngắm hoa theo hành trình đi từ Nam lên Bắc trong nước Nhật hàng tháng trời, đối lập với lá momizi trong sắc mùa thu, đỏ thắm dần từ Bắc xuống Nam.



Trong mùa hoa anh đào nở, nước Nhật như được bao phủ trong một đám mây hoa và những cánh hoa rơi rụng lả tả trong gió như một trận mưa hoa vừa kiêu hãnh vừa bi tráng, người Nhật thường tổ chức lễ hội mừng hoa khắp nước. Thanh niên nam nữ tổ chức cắm trại vui chơi. Các cụ già ngồi uống rượu sake dưới gốc cây. Trong khi uống sake, nếu có một cánh hoa rơi rụng vào chén rượu thì mọi người thường hân hoan cho đó là điều may mắn. Các đời thủ tướng Nhật thường tổ chức chiêu đãi các đoàn khách ngoại giao đến vườn thượng uyển Shinjuku Gyoen uống rượu ngắm hoa.
Có truyền thuyết cho rằng "sakura" là cách gọi lái từ "sakuya", trích từ tên của nữ thần Konohana-Sakuya-hime - một vị thần được nhắc đến trong cuốn lịch sử “Cổ sự ký” (Kojiki) của Nhật. Theo truyền thuyết, nữ thần này chính là người đầu tiên gieo hạt giống cây hoa anh đào trên núi Phú Sĩ nên được coi là nữ thần Sakura. Nữ thần có sắc đẹp tuyệt vời và loài hoa sakura khi nở cũng mang vẻ đẹp tựa như sắc đẹp của bà. Có lẽ vì thế người ta cho rằng tên Sakura bắt nguồn từ đó.

Mùa hoa nở
Hoa anh đào nở rộ suốt từ cuối tháng 1 cho đến đầu tháng 5 trải dài theo đường kinh tuyến của Nhật Bản. Bắt đầu từ Okinawa vào cuối tháng 1 cho đến Hokkaido vào đầu tháng 5. Do ở phía nam Okinawa thời tiết ấm áp nên hoa anh đào ở đây nở sớm nhất, tiếp theo là ở vùng Kyush, Kantou, Shikoku, còn ở Hokkaido thì phải đến đầu tháng 5, hoa anh đào mới nở. Ngoài ra còn tùy theo từng loại hoa anh đào khác nhau mà thời gian mankai cũng khác nhau. Sau thời gian mankai khoảng 1 tuần là hoa bắt đầu tàn dần

Hoa anh đào dung hợp giữa cuộc sống, sản xuấtvà tình cảm của nhân dân Nhật. Hoa nở, hoa rụng đều báo trước mùa gieo hạt xuân, mùa gặt hái....Dịch anh đào, lá anh đào, hao gỗ đều là thứ nguyên liệu rất tốt được dùng làm thuốc, chế biến thực phẩm, đóng đồ, chạm khắc...



Sự tích Hoa Anh Đào

Ngày xưa ở xứ Phù tang chưa có hoa anh đào như bây giờ. Tại một ngôi làng xinh xinh ven núi Phú Sĩ ,có một chàng trai khôi ngô tuấn tú dũng cảm khác thường. Năm chàng mới tròn một tuổi ,có một đạo sĩ phiêu bạt ghé qua nhà, nhìn cậu bé, mỉm cười đặt vào tay người cha thanh sắt đen bóng rồi lặng lẽ ra đi.
Lúc đấy đang mùa đông tuyết rơi tầm tã vị đạo sĩ đi khuất trong mưa tuyết rồi mà người cha vẫn thẫn thờ nhìn trông theo. Đặt thanh kiếm vào tay người vợ trẻ, ông nói như thì thầm :”Hãy cất kỹ và giao thanh sắt này lại cho con trai chúng ta khi nó tròn 14 tuổi. Số phận đã an bài nó sẽ trở thành một kiếm sĩ lừng danh”.
Cha cậu bé qua đời. Người vợ trẻ ở vậy nuôi con. Thanh sắt đen bóng được giao lại cho chàng trai năm cậu tròn 14 tuổi. Cậu rùng mình vuốt ve kỹ vật huyền bí nặng nề ấy. Một sức mạnh kỳ lạ, một khát khao khó hiểu tràn ngập vào cơ thể tươi non dũng mãnh của cậu. Người mẹ chưa kịp nói gì thì cậu đã run rẫy thốt lên trong cảm xúc nghẹn ngào: “Ta phải trở thành một kiếm sĩ nổi tiếng nhất đất nước này”.
Chàng trai đến rạp đầu xin thụ giáo một võ sĩ đạo lừng danh. Vị samurai ngắm nhìn chàng trai từ đầu đến chân, trầm ngâm suy tư bất động hàng giờ liền. Cuối cùng ông thở dài lẩm bẩm một mình “oan nghiệt” và chấp thuận. Thời gian thấm thoát thoi đưa, tuổi 18 thanh xuân tràn trề sức sống đến với người kiếm sĩ. Tay kiếm của chàng khiến những samurai kiêu hùng nhất cũng phải e dè. Nhưng còn thanh sắt? Chàng đã tự mình rèn nó thành thanh kiếm sáng ngời đầy uy lực. Nhưng chưa được. Một thanh kiếm báu thực sự phải được tắm mình trong máu ngay trong ngày khai trận. Biết nhúng lưỡi thép uy lực này vào máu ai khi chàng chưa hề có kẻ thù, khi chàng chưa hề đối mặt với kẻ cướp, khi chàng chưa tìm được bất cứ lý do gì để quyết đấu một phen? Lúc này người mẹ và người thầy của chàng đã khuất núi. Cô gái duy nhất của vị võ sư lừng danh năm xưa là người thân yêu còn lại duy nhất của chàng. Mỗi ngày khi nắng đã tàn lụi trên núi Phú sĩ , đêm đã tràn ngập trên xóm núi , cô gái lại buồn bã nhìn chàng ngồi bất động ,trầm tư bên bếp lửa. Chàng không còn cười nữa, mắt chàng lạnh như tuyết, chàng ôm thanh kiếm mà ước mơ ngày nó được tắm mình trong máu để trở thành bảo kiếm vô địch thiên hạ
-Anh thân yêu! Có phải chăng đối với anh thanh kiếm này là tất cả ? Nếu nó không được tắm mình trong máu để ngập trong khí thiêng thì anh sẽ mãi mãi buồn đau?
Nhìn vào bếp lửa ,chàng trai vuốt ve thanh kiếm trong lòng và nói chậm rãi rất quả quyết
- Chỉ buồn đau thôi ư? Không đâu! Đối với anh,thanh kiếm là sự nghiệp, là cuộc sống, là tất cả…..làm sao anh có thể coi mình là một võ sĩ đạo chân chính khi thanh kiếm của anh chưa từng no say trong máu? Trời ơi! Anh chết mất! Sao thời buổi này yên bình đến thế ? Sao không có kẻ cướp nào thúc giục anh xuống kiếm.không có kẻ cuồng ngông nào thách đấu với anh?
Cô gái mỉm cười đau đớn. Cô chỉ hỏi để khẳng định quyết tâm của mình thôi
- Anh thân yêu! Cho em được cầm lấy thanh kiếm của chàng một chút thôi.
Cầm thanh kiếm đen bóng, sắc lạnh cô gái nhìn chàng bằng ánh mắt buồn thăm thẳm rồi đột ngột đâm thẳng vào tim. Máu trào ra ướt đẫm tấm thân mảnh dẻ của nàng, nhuộm hồng chiếc áo kimono trắng nõn, trinh bạch. Chàng trai hốt hoảng rú lên kinh hoàng, vươn tay rút phăng thanh kiếm khỏi lồng ngực cô gái. Dưới ánh lửa bập bùng ,thanh kiếm ngời sắc xanh rực rỡ, hào quang loé lên lộng lẫy lạ thường: nó đã được no mình trong máu!
Nhưng từ đó ,chàng trai hoàn toàn cô độc. Không samurai nào thèm kết bạn với anh. Họ nhìn sang chỗ khác khi đối mặt trên con đường hẹp. Họ rời khỏi quán trà khi anh bước vào. Họ từ chối khi anh thách đấu …. Cho đến một hôm, một buổi chiều mùa đông, khi những bông tuyết đầu mùa vừa rơi, chàng trai ôm thanh kiếm đến bên mộ cô gái. Chàng thì thầm :”Tha lỗi cho anh. Anh đã hiểu ra rồi…”Chàng bình thản cắm sâu mũi kiếm vào bụng rạch một đường mạnh mẽ và rút kiếm ra phủ gục bên cạnh mộ. Thanh bảo kiếm cắm sâu vào mộ đất….tuyết không ngừng rơi….đến sáng. Tuyết đã ôm trọn chàng trai và ngôi mộ vào vòng tay của mình. Chỉ còn lại một cây hoa lạ, mơn mởn vươn lên tươi cười, hồng thắm. Không ai biết hoa hoá thân từ thanh kiếm ấy. Người ta dặt tên hoa là Anh đào. Hoa anh đào có nhiều loại mọc được ở nhiều nơi. Nhưng không nơi đâu đẹp bằng hoa đươc ươm mầm và trổ bông ở vùng núi Phú sĩ.

Sakura là quốc hoa của Nhật bản. Đặc điểm của nó là rơi trong khi còn đương độ tươi thắm. Hoa anh đào tượng trưng cho tinh thần võ sĩ đạo - samurai - biết chết một cách cao đẹp.

Nhật Bản có câu : "A flower is a cherry blossom, a person is a Samurai" (Nếu là hoa, xin làm hoa anh đào. Nếu là người, xin làm một võ sĩ đạo) . Điều đó có nghĩa là, khi một võ sĩ đạo đối mặt với hiểm nguy, anh ta không run sợ trước cái chết, bởi vì, giống như hoa anh đào, anh ta sẽ tự đâm mình và gục xuống ngay lập tức, không ngần ngại.



Đối với người Nhật Bản, hoa anh đào không chỉ tượng trưng cho vẻ đẹp thanh cao mà còn là nỗi buồn về sự ngắn ngủi, phù dung và tính khiêm nhường, nhẫn nhịn. Cây hoa anh đào đem tặng được xem như biểu tượng hòa bình của nước Nhật với các nước khác trên thế giới. Hoa anh đào mọc ở Triều Tiên và Mĩ không có mùi hương. Trong khi đó, ở Nhật Bản, người ta ngợi ca hương thơm của hoa anh đào trong những vần thơ. Trong ngôn ngữ Nhật, nhất là trong thơ ca, chữ ''hana'' (hoa) và ''sakura'' hầu như đồng nghĩa.

Hoa anh đào nở báo hiệu mùa xuân đến. Suốt tuần lễ thứ hai của tháng Tư, lễ hội hoa anh đào được tổ chức khắp nơi đón mùa xuân mới và mọi người tụ tập trong các buổi tiệc ngắm hoa ''ohanami'' (flower viewing) parties.

Dưới những tán cây anh đào trùng điệp muôn ngàn bông hoa hồng nhạt, người ta uống rượu sakê và ca múa, liên hoan thật vui vẻ



http://vi.wikipedia.org
http://phanchautrinhdanang.com
Bách khoa toàn thư tuổi trẻ thiên nhiên và môi trường, nhà xuất bản phụ nữa, 2005

~ 13/10/09 0 nhận xét

Tulip - biểu trưng của đất nước Hà Lan



“ Vườn hoa Tây Âu” đó là Hà Lan, vẫn được gọi là đất nước của hoa Tulip. Hoa Tulip, cối xay gió, phoma, và guốc gỗ là 4 thứ tiêu biểu của Hà Lan. Người Hà Lan xưa nay vẫn coi hoa Tulip là tượng trưng cho vẻ đẹp, sự trang trọng và quí phái. (có ý kiến cho rằng Tulip tượng trưng cho SỰ SỐNG và SỰ PHÌ NHIÊU, MÀU MỠ). Người ta tin rằng Tulip sẽ bảo vệ những ai gieo trồng chúng vì những bông hoa này là loại dành riêng cho những thiên thần bé nhỏ và các bà tiên, những người thường quây quần dưới các bông hoa và hát cho nhau các bài hát ru con
Hoa tulip thuộc họ bách hợp (huệ) (liliaceae), thân vẩy, mọc ngầm, chịu lạnh, hoa nổi hình kim hoặc hình chén, bông to và rất đẹp, hoa bọc sáu cánh, chia làm ra hai hàng trong ngoài; hoa có nhiều màu sắc khác nhau. Người làm vườn phân loại thực vật theo thói quen ra thành 2 loại: giống sớm và giống muộn. Giống sớm cây ngắn, chỉ cao khoảng 20cm, có hoa đơn hoa kép, đều thơm. Giống Tulip muộn, cây cao, chỉ có hoa cánh đơn, không thơm.
(“Love’s Labour’s lost” – William Shakespeare (1564-1616))

Phân loại khoa học:
• Giới (regnum): Plantae.
• Ngành (divisio): Magnoliophyta.
• Lớp (class): Liliopsida.
• Bộ (ordo): Liliales.
• Họ (familia): Liliaceae.
• Chi (genus): Tulipa

Ý nghĩa các màu hoa
- Hoa tulip: Lời bày tỏ của tình yêu.
- Hoa tulíp đỏ: hãy tin anh! Sự tuyên bố của tình yêu, tỏ lòng yêu chưa được đáp lại.
- Hoa tulíp vàng: tỏ tình yêu nhưng không hi vọng, một tình yêu tuyệt vọng.
- Hoa tulíp trắng: tỏ lòng yêu quý.
- Hoa tulíp xanh: tỏ lòng chân thành.
- Hoa tulip nhiều màu sắc: đôi mắt đẹp



Hoa tulip được trồng chủ yếu ở vùng Lisse nằm giữa Amsterdam và The Hague. Lisse là nơi có vườn hoa Kenkenhof. Hằng năm, cứ vào mùa hoa (tulip bắt đầu nở rộ vào những ngày cuối tháng 4 cho đến gần hết tháng 5). Cách Amsterdam một tiếng đi tàu, Keukenhof là khu vườn lớn nhất thế giới với bảy triệu hoa tulip đủ màu sắc. Mở cửa hàng năm vào ngày 20.3 cho đến 20.5 (mỗi năm có thể khác một chút), công viên đón gần bảy trăm nghìn lượt du khách, nhiếp ảnh gia, phóng viên, v.v... đến từ rất nhiều nơi trên thế giới.
Hoa Tulip được ưa chuộng ở nhiều vùng khác nhau trên thế giới, chúng mau chóng được ưa thích tại Châu Âu. Từ năm 1644 đến 1647, Hà Lan là nước điêu đứng vì chứng nghiện hoa Tulip. Trong những năm này, những mầm Tulip được bán với giá rất cao và nhiều kẻ đầu cơ đã trở nên giàu có. Tới thời của nữ hoàng Victoria, khi một người đàn ông tặng cho người yêu một hoa Tulip đỏ, có nghĩ anh ta muốn nói: "Em rất xinh đẹp, nếu anh được ngắm em chỉ một chút thôi thì gương mặt anh sẽ bừng lên như lửa và trái tim anh sẽ cháy thành than".



Hà Lan có phải là quê hương của loài hoa Tuylip?
Tulip giờ đây đã trở thành một phần không tách rời khỏi những di sản của Hà Lan, vì thế luôn có một sự hiểu lầm, một sự ngộ nhận rằng Hà Lan là quê hương của loài hoa độc đáo này. Thực tế không phải như vậy. Nguồn gốc của loài hoa kiêu sa này thực tế lại nằm ở vùng Trung Á. Vùng đất khởi tổ của loài hoa này nằm ở dãy Thiên Sơn và dãy Pamir gần Islamabad ngày nay, vùng gần giữa biên giới Nga và Trung Quốc. Chính từ khu vực này, loài hoa Tulip đã phát triển rộng sang các khu vực khác về phía Tây và Tây Bắc, về phía Đông thì sang tận Trung Quốc và Mông Cổ. Vùng đất quê hương thứ hai của Tulip dần hình thành là vùng Ai-dắc-bai-zan và Ac-mê-nia. Từ những khu vực này, loài hoa Tulip lại tiếp tục phát triển mạnh sang những vùng đất lân cận, trong đó có cả những vùng đất bao la của Châu Âu. Ngày nay, chúng ta vẫn có tìm thấy loài hoa này mọc tự nhiên rất nhiều ở rất nhiều nơi trên các quốc gia Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, vịnh Ban-căng, Thuỵ Sĩ, Pháp và Ý. Theo thống kê, có không quá 150 giống Tulip có nguồn gốc tự nhiên từ Châu Âu.



Ai đã mang hoa Tulip đến cho đất nước Hà Lan?
Lịch sử của hoa Tulip Hà Lan được bắt đầu vào năm 1593 khi nhà thực vật học Carolus Clusius (1526 - 1609), người rất nổi tiếng ở Viên và Prague với những công trình nghiên cứu về các loại cây thuốc , đến Hà Lan và trở thành nhà thực vật học đứng đầu vườn thực vật của trường Đại học Leiden. Ông sẽ không làm được điều này nếu không nhờ vào sự giúp đỡ của một người bạn thân - Flemish De Busbecq. Trong thời gian làm sứ giả ở Constantinople - Thỗ Nhĩ Kì, Flemish De Busbecq đã từng bị lôi cuốn bởi một loài hoa đẹp được trồng trong các vườn hoa cung điện: hoa Tulip (hay còn gọi là hoa Uất Kim Cương). Chính ông đã gửi một ít củ giống hoa về cho Clusius để trồng chúng tại vườn hoa Leiden. Với sự phụ tá của Cluyt, một nhà thực vật học và một dược sĩ tài năng sống ở thị trấn Delft, phía nam thành phố Hague, Clusius đã trồng những bông hoa Tulip đầu tiên ở Hà Lan. Những câu chuyện về loài hoa đặc biệt này được truyền đi nhanh chóng. Bị lôi cuốn bởi vẻ đẹp của hoa, người Hà Lan giàu có đã chuẩn bị một số lượng tiền lớn vào việc đầu tư một củ giống hoa Tulip. Người Hà Lan luôn luôn được coi là những doanh nhân rất sắc sảo bởi vì những người mua từ nước ngoài đã xuất hiện trên thị trường này trước đó từ rất lâu. Hoa Tulip đã trở nên đắt đỏ và đã từng được xếp vào hàng phát triến giống như cơn sốt vàng, tương tự như cơn sốt Internet trong những năm 90. Có chuyện ở một đường phố Amutstan, vào thời hoa đắt nhất, giá ba cây hoa Tulip bằng một căn phòng đẹp.



Hoa Tulip từ đó và cho đến bây giờ là một trong những sản phẩm xuất khẩu chủ đạo của Hà Lan và cũng là nước xuất khẩu hoa Tulip lớn nhất thế giới, tới 125 quốc gia trên thế giới. Phần lớn được xuất khẩu sang các thị trường Mỹ, Đức và Nhật, còn lại hàng tỷ củ giống hoa vẫn được giữ lại ở Hà Lan.

Cái tên Tulip bắt nguồn từ đâu?
Một số ý kiến cho rằng loài hoa Tulip là loài hoa quốc gia của đất nước Iran và Thổ Nhĩ Kỳ và hình ảnh hoa Tulip được khắc hoạ rất nhiều trong nghệ thuật dân gian của nước Ba Tư cũ và Thổ Nhĩ Kỳ. Cái tên châu Âu Tulip được bắt nguồn từ một từ trong tiếng Nam Tư có nghĩa là “Turban”: khăn xếp. Điều này xuất phát từ tập quán cài hoa lên chỗ xếp khăn của người Thổ Nhĩ Kỳ. Cũng có thể người ta sử dụng từ này bởi một đặc điểm của loài hoa này là khi chưa nở rộ nó trông rất giống một chiếc mũ không vành, hay một cái khăn xếp.

Nguồn Gốc Hoa Tulip.
Người ta không biết rõ là hoa tulip có tự khi nào, chỉ biết hoa tulip được bắt nguồn từ Thổ Nhĩ Kì. Hoa Tulip rất được người Thổ Nhĩ Kì ưa thích, thậm chí họ còn ngưỡng mộ loài hoa này đến độ sùng bái vì Tulip có rất nhiều màu tuyệt vời như vàng, tím, tía nhạt, tím thẩm, đỏ thắm, hồng tươi....
Tên gọi của hoa tulip theo tiếng Thỗ Nhĩ Kì là “TULIPAN”, sở dĩ cái tên này là vì hình dáng của hoa tulip trông giống như chiếc khăn bịt đầu của người dân Thổ Nhĩ Kì thời đó.
Có một chuyện kể rằng, Vua của Thổ Nhĩ Kì trước hôm đám cưới của mình 1 ngày, đã ban lệnh cho người làm vườn của mình là trong ngày cưới phải có nhiều thật nhiều hoa tulip để trưng bày trong cung đình, cũng như ngoài vườn phải có đầy hoa tulip nở...vấn đề là ở chỗ lúc đó là vào tháng 11. Người làm vườn đã tìm và nhờ 1 đạo sĩ thổi sáo suốt 1 ngày một đêm...và kì lạ thay.... sáng sớm hôm đó... cả vườn hoa tulip đều nở rộ, khoe hương sắc... Vị vua rất vui mừng đã ban thưởng cho người làm vườn 1 thanh vàng rất có giá trị. Người làm vườn đã trao tặng lại cho người đạo sĩ vì công lao đó là do người đạo sĩ tạo nên



Hoa Tulip đen
Từ xa xưa khi bóng tối của màn đêm còn ngự trị, con người đã xem màu đen là huyền bí, có sức mạnh siêu nhiên. Nên không ngạc nhiên khi hoa màu đen (hồng đen, tuplip đen - những đặc điểm ngược với tự nhiên) luôn thu hút sự quan tâm đặc biệt của con người. Người ta tin về vẻ đẹp và sức mạnh tâm linh của nó và gắn cho nó nhiều huyền thoại, huyễn hoặc
Từ thế kỷ 17, người Hà Lan đã cố gắng lai tạo để cho ra những bông hoa tulip màu đen. Nhưng kết quả là luôn thất bại. Ngày nay, người ta cũng tạo ra được hoa tulip màu đen với những bí quyết bí mật và gắn cho nó những cái tên rất "kêu" như "Queen of Night"... Nhưng thực sự màu đen đó như thế nào? Chỉ là màu tím sẫm (dark purple) đối với hoa tulip hay màu đỏ sẫm (very dark red) đối với hoa hồng. Nhưng, người ta vẫn xem chúng là... màu đen như mong đợi



























lấy từ: 1.http://linhvurainbow.blogspot.com
2.Bách khoa toàn thư tuổi trẻ thiên nhiên và môi trường, nhà xuất bản phụ nữ, Hà Nội 2005)

~ 7/10/09 6 nhận xét

Hoa Mai - Biểu trưng của Trung Quốc

- Hoa mai tượng trưng cho tinh thần ko sợ giá lạnh vượt lên băng tuyết, là biểu trưng của Trung Quốc.
- Nhà thơ yêu nước Lâm Hòa Tĩnh suốt đời sống độc thân, lấy hoa mai làm bạn, gọi là "vợ mai", đã làm thơ ca ngợi hình ảnh thanh cao của hoa mai:
"Dáng nghiêng nước cạn thưa thưa ảnh
Hương trầm lay động bóng trăng khuya"
- Tôn Trung Sơn sau khi lật đổ Vương triều nhà Thanh, thành lập Trung Hoa Dân Quốc đã dùng 5 cánh hoa mai tượng trưng cho 5 màu cờ thể hiện tinh thần đòan kết các dân tộc.
- Năm 1982, để kỉ niệm quan hệ bang giao giữa Trung & nhật, người ta đã phát hành con tem "hoa mai" & "hoa anh đào", chính là 2 lòai hoa biểu trưng cho 2 nước.
*Cây hoa mai là cây thân mộc họ Tường vi (Rosaceae). Thường cao 4-5m(có khi tới 10m ). Lá rộng hình trứng có đuôi nhọn, cuống lá 2 tuyến lồi. Thường có 5 cánh(hoặc nhiều hơn: bội của 5), có các màu: trắng, đỏ, đỏ mực & phớt hồng(đào phai). Hoa nở trước khi ra lá, thơm mát. Hiện đã lai tạo hơn 200 giống có đủ màu sắc, có hoa đơn hoa kép. Giống hoa đơn thường ra quả sau hoa, quả rất chua. Còn giống hoa kép thường ko ra quả, chỉ để ngắm.
Mai còn đc liệt vào hàng "tứ quân tử" gồm: tùng, cúc, trúc, mai. Do kiên nghị ko kém gì tùng bách, mềm dẻo ngang với trúc tre nên mai đc xếp đứng đầu 4 cây quân tử.













Sự tích hoa mai
Ngày xửa... Ngày xưa... Có một cô bé rất giàu lòng yêu thương. Cô yêu bố mẹ mình, chị mình đã đành, cô còn yêu cả bà con quanh xóm, yêu cả ba ông Táo bằng đá núi đêm ngày chịu khói lửa để nấu cơm, hầm ngô, nướng thịt cho mọi người ăn. Một lần, thương ba ông Táo, trời đã nóng lại chịu lửa suốt ngày đêm, cô bé mới lên năm ấy đã lấy một gáo nước to dội luôn lên đầu ba ông. Tro khói bốc lên mù mịt. ông Táo già nhất vụt hiện ra nói:

- Cháu thương ta nhưng chưa hiểu ta. Lửa càng nóng, ta càng vui. Cháu mà dội nước thì có ngày ta bị cảm mất.

Từ đấy, cô bé không dội nước lên đầu ba ông Táo nữa. Nhưng ông Táo già thì thỉnh thoảng lại hiện lên trò chuyện với hai chị em cô bé trong chốc lát. Một hôm thương ông, cô em hỏi:

- Ông thích lửa thôi à? Ông còn thích gì nữa không?

-Có chứ! Năm sắp hết. ông phải về trời! Cháu bắt cho ông con cá chép ông cưỡi về Trời thì ông thích nhất. Cô bé liền rủ chị đi bắt cho bằng được một con cá chép về. Cô bỏ ngay vào bếp lửa rồi nói:

- Ông Táo ơi! Chúng cháu biếu ông con chép này đây!

Con cá chép vụt biến mất. Tối hăm ba Tết, quả nhiên hai chị em thấy ông hiện ra, sau đó cưỡi con cá chép như cưỡi ngựa, bay ra khỏi nhà và bay cao mãi lên trời... Bố cô bé là một người đi săn thú rất tài giỏi. Ông thường chỉ thích đi săn thú dữ. Ông bảo:

- Còn thú ác thì tôi còn đi săn cho kỳ hết!

Ông không muốn truyền nghề cho con mình, vì cả hai đều là gái. Nhưng cô em lại rất thích nghề của cha. Lên năm cô đã xin cha dạy cho mình đủ cả côn, quyền và đao kiếm. Cô tuy bé người nhưng nhanh nhẹn vô cùng, và về sức mạnh của đôi tay cô, người cha cũng phải kinh ngạc. Lên chín, cô đã hăm hở xin theo cha đi săn thú. Người mẹ và người chị lo lắng, nhưng cô bé đã thưa ngay:

- Con không giết được con mồi bằng một nhát như cha thì con đâm ba nhát, năm nhát, mẹ và chị cứ yên tâm.

Nói sao làm vậy, cô bé lần đầu theo cha đi săn đã giết ngay được một con lợn lòi rất hung dữ... Trong vùng bỗng xuất hiện một con quái đầu người mình báo. Bà con ai cũng lo lắng, khiếp sợ. Vì con quái vật chỉ thích ăn thịt người, nhất là thịt trẻ con. Người cha liền dẫn cô gái nhỏ đi tìm quái vật để giết. Người mẹ và chị can ngăn nhưng không được. Người cha bảo:

- Tôi chỉ cho nó đi theo để xem, còn diệt quái ác là việc của tôi, hai mẹ con đừng lo.

Hai cha con đi được mấy ngày thì có tin con quái đã bị người cha giết chết thật. Bữa hai cha con trở về, bà con trong vùng mang rượu, gà vịt đến làm cỗ ăn mừng. Cô gái nhỏ không quên đặt vào bếp lửa một con cá chép và khấn với ông Táo già:

- Chúng cháu xin gửi biếu ông con chép để thỉnh thoảng ông cưỡi đi chơi.

Ông Táo già lại hiện lên cám ơn cô bé và hỏi:

- Cháu thấy con quái có sợ không?

- Cháu chỉ thích được cha cháu cho cháu được cùng đánh với nó, nhưng cha cháu không chịu.

Người cha sau đó bỗng bị ốm nặng. Người mẹ và hai cô gái hết lòng chăm sóc. Bệnh người cha có đỡ, nhưng sức khỏe thì không còn được như trước nữa. Vài năm sau, ở vùng trong xa, bỗng xuất hiện một con quái cũng đầu người nhưng mình trăn. Con quái này có sức khỏe ghê gớm. Nó có thể quấn chết một con bò mộng chỉ trong chớp mắt. Nó lại cũng thích ăn thịt trẻ con và có thể ăn một lúc đến mấy đứa. Bà con vùng đó liền cử người ra mời cha con người đã giết con quái đầu người mình báo vào diệt quái giúp bà con. Người cha nhìn cô gái nhỏ của mình hỏi:

- Liệu con có nhận lời đi giúp bà con không?

Cô gái nhỏ liền đáp:

- Con xin cha mẹ và chị để cho con đi!

Người cha nói:

- Cha sẽ cùng đi với con, nhưng cha chỉ giúp con thôi. Lần này chính con phải lo diệt quái đấy. Người mẹ và chị càng lo lắng gấp bội.

- Ông ơi! Đường từ đây vào đó xa xôi cách trở. Quái thì dữ ác mà con bé thì mới mười bốn tuổi, tôi sợ lắm.

- Cha ơi! Cha và em nhận lời, rủi có chuyện gì thì mẹ và con làm sao sống nổi.

Cô gái nhỏ liền thưa:

- Mẹ và chị à, con tuy còn nhỏ nhưng con có đủ sức để diệt quái. Bà con đã ra nhờ lẽ nào mình lại từ chối. Mẹ và chị cứ yên lòng. Cha và con diệt xong quái sẽ trở về ngay.

Thấy không can ngăn được, người mẹ và chị đành lo chuẩn bị mọi thứ cho hai cha con lên đường. Trước đó người mẹ đã may áo mới cho hai con ăn tết, bây giờ bà liền hỏi cô gái nhỏ:

- Con muốn mẹ nhuộm áo cho con màu gì?

Cô bé nhìn ra ngoài đồi núi, rồi đáp:

- Con rất thích màu vàng!

Người mẹ liền giã nghệ nhuộm cho con một màu vàng thật tươi. Ngày lên đường, cô bé mặc chiếc áo vàng, nhìn càng khỏe, càng đẹp. Cô nói với mẹ và chị:

- Diệt xong con quái lúc về con sẽ mặc áo này cho mẹ và chị nhận ra được con ngay từ xa...

Trước khi đi cô gái cũng không quên khấn chào ông Táo đá núi và hứa:

- Cháu sẽ trở về kể chuyện diệt quái cho ông nghe.

Ông Táo liền hiện ra nói:

- Chúc hai cha con mau trừ được quái. ông sẽ chờ ngày trở về...

Hai cha con đi ròng rã hơn một tháng trời mới vào đến nơi có con quái đầu người mình rắn. Nghỉ ngơi được dăm ba ngày, hai người liền đi tìm quái để diệt. Hai cha con đánh nhau với nó hai ngày liền mà không diệt nổi. Sức của người cha thì cứ yếu dần. Cô bé liền thưa với cha:

- Cha ơi! Ngày mai cha cứ để cho con bám sát nó. Con sẽ đâm một con dao găm chặt đuôi nó vào thân cây này, đâm một con dao cắm chặt mình nó vào thân cây khác. Nó không quăng mình đi được thì ta sẽ lựa thế mà chặt đầu nó đi. Người cha biết cách đánh đó hay nhưng rất nguy hiểm.

Tin vào tài nghệ của con, ông gật đầu:

- Được! Nhưng con phải đề phòng cẩn thận nếu nó dứt được đuôi ra.

- Cha cứ yên tâm.

Ngày hôm sau theo cách đánh ấy, hai cha con quả đã diệt được quái. Nhưng trước khi chết nó đã quẫy mạnh một cái, dứt được cái đuôi ra khỏi mũi dao. Sau đó nó liền cuốn ngay lấy người cô bé. Cô bé vừa chặt được cái đầu con quái thì cũng bị con quái quấn gẫy cả xương mềm nhũn cả người. Thấy con gái yêu của mình chết, người cha buông rơi cả thanh kiếm, chạy đến đỡ lấy xác con. Bà con trong vùng cũng vừa chạy đến. Họ đem xác cô gái về chôn cất rồi lập đền thờ. Nhưng cô gái đâu chịu chết như vậy. Vì cô biết rằng cha mẹ chị mình cùng bà con vùng trong, vùng ngoài đều yêu quý mình, mà cô cũng yêu quý và muốn sống với họ. Cô xin thần Đất giúp cô biến thành một con chim lông vàng rực rỡ, một con chim chưa ai thấy bao giờ rồi bay về quê nhà xin gặp ông Táo đá núi:

- Ông ơi! Cháu bị con quái quấn chết. Nhưng cháu mà chết thì mẹ cháu, chị cháu làm sao sống nổi. Vậy đêm nay hăm ba Tết, ông có về trời ông hãy tâu với trời cho cháu sống lại...

Ông Táo đá núi liền hứa:

- Được, ông sẽ tâu giúp cho cháu...

Con chim lông vàng rực rỡ liền bay xuống chỗ mẹ và chị đang ngồi, kêu lên mấy tiếng rồi bay đi. Cũng vừa lúc đó người mẹ và chị biết tin là cô gái nhỏ đã không còn nữa. Bà mẹ ngã ra chết giấc bên bếp lửa. ông Táo đá núi liền đưa hai bàn tay ấm nóng áp vào trán cho bà tỉnh lại và nói ngay:

- Bà cứ yên tâm. Đêm nay về trời, tôi sẽ xin trời cho cháu sống lại.

Hai mẹ con nghe nói mừng quá liền sụp xuống lạy tạ ơn. Ông Táo đi tối hăm ba thì tối hăm tám ông trở về hạ giới. ông nói với hai mẹ con:

- Trời rất thương cô bé nhưng cháu chết đã quá ngày, xin sống lại quá chậm. Vì vậy trời chỉ có thể cứu cho cháu mỗi năm sống lại được chín ngày.

Hai mẹ con nghe nói vừa buồn nhưng cũng vừa mừng. Thôi cứ được trông thấy con, thấy em trong giây lát cũng đã đỡ khổ rồi. Huống gì lại được thấy đến chín ngày. Bà mẹ liền hỏi:

- Ông ơi! Bao giờ thì cháu sống lại được?

- Tùy hai mẹ con cứ cầu trời sống từ ngày nào, trời sẽ cho ngày ấy.

- Vậy nhờ ông xin cho cháu sống lại ngay đêm nay!

- Đêm nay thì chưa được, sớm nhất là phải từ đêm mai!

- Vâng, ông xin cho cháu sống lại từ đêm mai vậy!

Hai mẹ con suốt đêm hôm ấy cứ thức mãi. Cả ngày hôm sau, hai mẹ con đều chẳng muốn làm gì. Chỉ mong cho trời chóng tối. Chờ mãi rồi trời cũng tối thật. Hai mẹ con hồi hộp đợi, không biết con mình, em mình sẽ sống lại trở về như thế nào. Định khấn gọi ông Táo thì bỗng nghe ngoài cổng có tiếng gọi:

- Mẹ ơi! Chị ơi!

Hai mẹ con vụt chạy ra và thấy đúng là cô gái nhỏ đã trở về. Trong chiếc áo vàng vẫn sáng lên nhìn rất rõ. Ba mẹ con ôm nhau khóc như mưa. Ngày hôm sau người cha cũng từ vùng trong trở về. Dọc đường thương con, thương vợ ông chưa biết sẽ nói gì cho vợ và con ở nhà đỡ khổ. Không ngờ khi về đến nhà đã thấy cô gái nhỏ đang nằm ngủ bên cạnh mẹ và chị. Ông dụi mắt tưởng là con bé nhà ai đến chơi. Khi biết cô gái nhỏ đã được sống lại, trở về ông liền ôm chầm lấy con và cứ để cho nước mắt chảy dài trên má.

Cô gái nhỏ ăn Tết với cha mẹ và chị đúng chín ngày. Trong chín ngày đó, cô gái nhỏ dành làm hết mọi công việc để giúp cha mẹ, giúp chị. Nhưng cả nhà lại không muốn cô gái làm việc gì. Trong chín ngày, họ sống bù cho cả một năm sắp phải xa nhau. Đến đêm thứ chín trời vừa tối, cô bé vừa kịp ôm lấy cha, mẹ và chị để chào ra đi thì người cô bỗng cứ mờ dần như sương khói rồi biến mất. Cả nhà buồn rầu, thương nhớ cô gái nhỏ vô cùng. Nhưng nghĩ đến chuyện Tết năm sau, cô sẽ về, mọi người lại ôn ủi nhau, lại kiên nhẫn chờ đợi...

Và năm sau, cũng vào chiều hai chín Tết, cô gái nhỏ áo vàng lại trở về ăn Tết với gia đình rồi đến tối mồng Bảy lại ra đi... Năm nào cũng thế. Nghe chuyện lạ, người vùng trong liền cử người ra mời cả gia đình vào sinh sống trong đó để bà con được trả ơn và gặp lại cô gái nhỏ đã giúp bà con diệt được con quái đầu người mình trăn. Thấy sức người cha đã suy yếu, cả nhà bàn với nhau và nhận lời.

Từ đấy, hàng năm, cô gái nhỏ áo vàng lại trở về sống chín ngày cuối năm, đầu Xuân với cha mẹ, với bà con vùng trong. Khi cha mẹ và chị đều mất cả, cô gái không về nữa. Cô hóa thành một cây hoa ngay ở ngôi đền bà con đã dựng lên để thờ cô. Cây ấy hầu như cả năm chỉ có lá, nhưng cứ vào khoảng gần Tết, hoa lại nở đầy. Hoa màu vàng tươi như màu áo của cô gái nhỏ ngày trước.

Hoa vui Tết với bà con khoảng chín mười ngày rồi rụng xuống đất, biến mất để năm sau lại trở về. Cây hoa ấy ngày nay ta gọi là cây Mai Vàng. Ngày Tết ở miền Trung và ở Nam Bộ, bà con thường mua một cành mai vàng về cắm trên bàn thờ ông bà. Họ tin rằng, có cành mai vàng vừa đẹp nhà vừa vui Tết lại vừa có thể xua đuổi được hết các loài ma quái trong suốt cả năm.


Màu vàng của hoa mai giống như màu áo của cô bé

(http://z4.invisionfree.com/A5lhp/index.php?showtopic=94&view=getnewpost)
(http://truyencotich.org/)

~ 3/10/09 2 nhận xét