Hiển thị các bài đăng có nhãn 10 loại hoa nổi tiếng của Trung Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 10 loại hoa nổi tiếng của Trung Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thủy tiên - nàng tiên mùa đông






Tên Hán Việt: Ngọc Châu Kim Đài
Tên tiếng Anh: Narcissus, White daffodil
Tên tiếng Pháp: Narcisse des poétes
Tên Latin: Narcissus poeticus
Ý nghĩa: Yêu chính mình, tính ích kỷ(selfishness, egotism)
Biểu tượng: sự sang trọng, kiêu sa
Thông điệp: "My fond hopes have been dashed by your behavior", "Stay as sweet as you are"



Phân loại khoa học
Giới (Regnum): Plantae
Ngành (divisio): Magnoliophyta
Lớp (class): Liliopsida
Bộ (ordo): Asparagales
Họ (familia):Amaryllidaceae
Chi (genus): Narcissus



Chi Thủy tiên (danh pháp khoa học: Narcissus) là tên gọi để chỉ một nhóm cây dạng thân hành cứng, chủ yếu ra hoa về mùa xuân, trong tiếng Việt có tên gọi chung là thủy tiên. Có một vài loài thủy tiên ra hoa vào mùa thu. Các loài cây này chủ yếu có nguồn gốc ở khu vực Địa Trung Hải, nhưng một số loài được tìm thấy tại Trung Á và Trung Quốc. Các giống cây thủy tiên khá nhiều và nói chung chúng đã được biến đổi và mở rộng rất nhiều, với các giống mới được đưa ra từ các vườn ươm mỗi năm.
Thủy Tiên là loài hoa gốc Trung Quốc (Quãng Đông, Phúc Kiến, Giang Tô, Quý Châu). Có hai loại Thủy Tiên: loại hao đơn và hoa kép. Củ và lá hao thủy Tiền trông gióng như củ và lá hành tây.
Thủy Tiên theo cách gọi tên hoa có nghĩ là "nàng tiên nước" nangf tiên hoa nơi thủy cung. Quả như vậy Thủy Tiên là một lọai hao không nhan sắc lòe loẹt, rực rỡ như những loài hoa khác mà mảnh mai, trinh tiết, thùy mị, mang pong cách nữ tính, ưa sạch sẽ, đầy vẻ quý phái. Thủy Tiên thuộc họ hàng với hoa huệ nhưng lá ngắn hơn,củ to hơn gần như củ hành tây và củ hoa loa kèn (dại)



Danh pháp
Tên gọi Narcissus có nguồn gốc từ tên gọi của một nhân vật thần thoại Hy Lạp chỉ yêu bản thân mình là Narkissos.
Hoa thủy tiên đôi khi còn được gọi là hoa trường thọ, nhưng một cách chặt chẽ thì tên gọi này chỉ áp dụng cho một loài là Narcissus jonquilla và các giống trồng được tạo ra từ loài này.



Các đặc trưng
Tất cả các loài thủy tiên có hoa hình loa kèn Trumpet, ở trung tâm được bao quanh bằng một vòng các cánh hoa. Các hoa thủ tiên truyền thống có màu vàng kim, nhưng bao hoa thường có màu tương phản. Các nhà nhân giống đã tạo ra một số loại thủy tiên có 2 hoặc 3 hàng cánh hoa, làm cho chúng trông như một quả cầu màu vàng. các giống khác có cánh hoa xếp nếp hoặc bao hoa trung tâm được kéo dài hay nén nhỏ.
Các laòi hoa thủy tiên chứa độc và có thể gây tử vong nếu ăn phải.



Một số loài
PlantSystematics.org liệt kê 449 danh pháp khoa học, tuy nhiên hiện nay số giống cây trồng của các loài thủy tiên là khoảng 24.000.
Hoa thủy tiên là quốc hoa của Wales. Một loài, "Narcissus obvallaris", chỉ được trồng tại một khu vực nhỏ xung quanh Tenby. Tại Wales, theo truyền thống người ta đeo hoa thủy tiên vào ngày lễ Thánh David (1 tháng 3).
Hoa của thủy tiên là loại hoa trang trí phổ biến trong ngày Tết cổ truyền Trung Hoa.



Vị thuốc từ hoa thủy tiên
Người ta yêu thủy tiên vì vẻ đẹp quý phái và hương thơm đặc biệt, nhưng chắc hẳn sẽ thêm quý loài hoa này nếu biết rằng nó còn là một vị thuốc chữa bệnh. Hoa thủy tiên có tên khoa học là Narcissus tazetta L.var.chinensis Roem, trong thành phần hóa học của hoa có chứa 0,2-0,45% tinh dầu, trong đó chủ yếu là Eugenol, Benzaldehyde, Benzyl alcohol, Cinnamic alcohol. Ngoài ra, còn chứa Rutin, lsorhamnetin-3-rhamnoglucoside, Narcissin, Citronellol...
Hoa thủy tiên là loại hoa được mọi người yêu thích nhất của mùa đông, nó có thể nở hoa đẹp trong mùa đông lạnh, đặc biệt là lá thì có mầu xanh biếc sáng bóng, làm cho trong phòng tràn đầy ý nghĩa của mùa xuân. Nhưng thuỷ tiên cũng có độc, độc ở cây, đặc biệt là ở thân củ giống như củ tỏi của nó thì độc tính càng nhiều. Nếu ăn nhầm thân củ thì có thể xuất hiện triệu chứng nôn, đau bụng, mạch đập yếu, kiết lị, thở gấp, nhiệt độ cơ thể tăng và bị choáng váng, thậm chí có thể còn dẫn đến co giật, tê liệt mà chết. Thành phần có độc của thuỷ tiên là tính kiềm sinh vật, hàm lượng trong thân củ là 1%.



Theo dược học cổ truyền, hoa thủy tiên vị đạm, tính mát; rễ cây hoa có vị cay đắng, tính lạnh; có công dụng khứ phong thanh nhiệt, hoạt huyết điều kinh, tiêu thũng giải độc; được dùng để chữa các chứng bệnh như kinh nguyệt không đều, phụ nữ ngũ tâm phiền nhiệt (nóng lòng bàn tay, bàn chân và vùng giữa ngực), mụn nhọt, viêm loét, viêm tuyến vú, quai bị, viêm hạch... Y thư cổ Bản thảo cương mục cho rằng, hoa thủy tiên có công năng "khứ phong khí". Thường được dùng dưới dạng tươi hoặc khô, uống trong với liều từ 3-6g, dùng ngoài giã nát đắp hoặc nấu nước rửa.



Một số cách dùng cụ thể như sau:
* Kiết lỵ: Hoa thủy tiên 3g sắc kỹ lấy nước, pha thêm một chút đường trắng uống trong ngày.
* Quai bị: Hoa hoặc củ thủy tiên giã nát, sao nóng rồi đắp vào chỗ đau.
* Tiểu tiện không thông: Củ thủy tiên giã nát rồi đắp vào huyệt Dũng tuyền. Vị trí huyệt Dũng tuyền: nằm ở điểm nối giữa 2/5 trước và 3/5 sau của đoạn nối đầu ngón chân thứ hai với điểm giữa bờ sau gót chân.
* Phụ nữ ngũ tâm phiền nhiệt: Hoa thủy tiên, lá sen khô, xích thược, lượng bằng nhau. Tất cả sấy khô, tán bột, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 6g với nước ấm.
* Trẻ em co giật: Hoa thủy tiên 10 bông, phơi khô sắc uống, có thể pha thêm một chút đường.
* Áp-xe vú: Hoa thủy tiên giã nát, trộn với một chút rượu rồi đắp vào nơi bị bệnh, mỗi ngày đắp 2 lần.
* Mụn nhọt, đinh độc: Hoa hoặc củ thủy tiên tươi giã nát đắp lên nơi bị tổn thương; hoặc dùng củ thủy tiên, dã tường vi, lá phù dung và rễ cây chuối tiêu, giã nát rồi đắp vào nơi bị bệnh.
* Côn trùng đốt: Dùng hoa hoặc lá thủy tiên tươi giã nát đắp vào chỗ bị đốt.



Sự tích hoa thủy tiên
Dân gian có câu: "Cha mẹ sinh con, trời sinh tính", ngẫm mà đúng. Cặp vợ chồng nhà thần Kêphít và Lavơriôna sinh hạ được một cậu con trai có gương mặt trắng trẻo, cặp mắt sáng, mái tóc quăn tít, đặt tên là Narơxít thay cha làm hà bá, trị vì một vùng sông nước.
- Ôi, chàng mới đẹp làm sao! Thật là một đứa con tuyệt vời! - Các nữ thần đến thăm Lavơriôna đều tấm tắc khen.
Nhưng các thần cũng giống như con người đều có tính hay ghen ghét, đố kỵ trước những thành đạt của người khác. Loài cá bơi từ Đông sang Tây đã loan tin về vẻ đẹp tráng kiện và trí tuệ của con trai nữ thần Lavơriôna. Nữ thần Sứa biết được tin này, ả có một đứa con trai vốn xấu xí lại ngốc nghếch; khi nghe những lời khen của thiên hạ dành cho Narơxít thì ả nổi điên lên, đến nỗi những con rắn phủ trên đầu ả thay cho tóc bỗng dựng ngược lên, phun lưỡi phì phì. Nữ thần Sứa nghiến răng trèo trẹo:
- Vẻ đẹp của mi sẽ giết chết mi, mi sẽ phải lòng chính cái hình bóng của mi, mi sẽ trở nên tốt bụng chỉ vì lòng hiếu danh, sẽ trở nên người thông minh chỉ vì thói kiêu căng. Cái khoảnh khắc mà mi nhìn thấy bóng hình mình trong gương chính là lúc mi bắt đầu phải chấp nhận cái chết. Những con cá bơi ngược lại từ Tây sang Đông mang tin về lời nguyền của nữ thần Sứa đến lưu vực sông do Kêphít trị vì. Thần Kêphít đập vỡ tất cả các loại gương có dưới thuỷ cung, còn các mảnh kính vụn thì cho quẳng lên đất liền. Từ khi còn nhỏ, Narơxít mới chỉ nghe nói về vẻ đẹp và về trái tim nhân hậu của mình, bây giờ chàng nghĩ rằng chàng cần phải là một người nhân hậu và thông minh, mặc dù làm được việc đó không phải là dễ. Khi lũ con của các nữ thần khác dành một chút trong khẩu phần ăn sáng hoặc bữa trưa của mình cho cá, thì Nanơxít cũng không muốn chịu tiếng là keo kiệt bènném cho cá một ít thức ăn. Dù chỉ là bớt lại một chút nhỏ nhoi lượng phần ăn, nhưng chàng tin rằng việc thiện mà chàng đã làm còn tốt hơn nhiều so với những người khác, bởi lẽ chàng đã hy sinh không phải là một món ăn dân dã mà là món ăn của nhà thần. Nhưng sau đó chàng lại khôn ngoan ngầm giữ lại khẩu phần của mình mà lấy khẩu phần của mẹ để đem cho, khiến lũ con các thần phải thán phục về sự hào hiệp và quên mình của chàng.



Thời gian như bóng câu qua cửa sổ. Mới hồi nào Narơxít còn chơi đùa với lũ cá, nhặt nhạnh những vỏ hến, vỏ sò trang điểm cho nơi ở của mình, bây giờ chàng đã lớn phổng lên thành một chàng trai chững chạc. Khi xưa, lũ con của các thần thường cùng với chàng nuôi cá, nay lớn lên mỗi đứa lại có một sở thích riêng. Đứa nào cũng muốn tỏ ra khôn ngoan linh lợi. Chúng đọc cho nhau nghe những bài thơ tự sáng tác, hát những bài ca tự nghĩ ra và thi xem ai nhảy lên lưng cá ĐenPhin khéo léo hơn và bơi đi xa hơn. Narơxít cũng sáng tác thơ và chẳng bao lâu chàng hiểu rằng có một đứa con trong lũ con nhà thần tỏ ra trội hơn chàng, chàng liền đem lòng ghen ghét, phỉ báng cả bè bạn.
- Đó là một chàng trai thông minh và tài hoa! Con gái thần nào mà được chàng lấy làm vợ thì thật là diễm phúc, - Các nữ thần có tuổi xì xào, tỏ ý ghen tỵ với người vợ tương lai của Narơxít.
Nếu các nữ thần có tuổi bị chàng trai tuấn tú, đôn hậu và thông minh cảm hoá, thì cũng chẳng lấy gì làm ngạc nhiên khi các nữ thần trẻ trung đã rắp tâm quyến rũ chàng bằng vẻ đẹp ưng ý, cuối cùng chàng quyết định kết hôn với Ekhô, cô gái đẹp nhất trong đám các tôn nữ nhà thần.



Trước ngày cưới, Ekhô bảo Narơxít lên bờ sông hái coh nàng bông hoa Anh Đào dại để nàng gài lên mái tóc xanh của mình.Narơxít đã hái cả một bó hoa và khi cúi gập người toan nhảy xuống nước, thì bỗng nhiên thấy một vùng nước tôi tối có bóng hình của mình.
- Đẹp quá! Kể từ khi khai thiên lập địa chưa một ai được chứng kiến một sự tuyệt diệu như thế này! - chàng thốt lên rồi sững người như bị bỏ bùa mê. Trong khi nhìn chằm chằm vào cái bóng của mình, chàng quên khuấy cả Ekhô, người mà ngày mai chàng sẽ tổ chức lễ cưới đón nàng. Chàng ném những bông hoa xuống cỏ và khi đứng dậy chàng lại bị mê mẩn với cá bóng của chàng lại bị mê mẩn với cái bóng của chàng trong gương nước.
- Đúng rồi, ta không chỉ là một chàng trai thông minh, đôn hậu nhất mà còn đẹp nhất nữa - Narơxít dương dương tự đắc.
Đợi mãi không thấy người tình trở về, Ekhô đành phải ngoi lên mặt nước. Tức thì nàng bị người tình mắng nhiếc thậm tệ, chỉ vì nàng đã làm gương nước xao động.
Ekhô không tin rằng Nanơxít lại quá giận dữ, vừa làm lành với chàng vừa xoa cho mặt nước trở lại phẳng lặng.
- Ta biết, em ghen với vẻ đẹp của ta, vì vậy em tìm cách cản trở ta. Đừng vờ vĩnh nữa, hãy trở lại thuỷ cung đi.
- Chàng thân yêu! Em là cô gái đẹp nhất trong đám tôn nữ nhà thần, cớ sao em lại ghen ghét vẻ đẹp của chàng? - Ekhô nói và vẫn nghĩ rằng người tình nói đùa.
- Anh cứ nghĩ em là một người đẹp, đó là khi anh chưa trông thấy mình. Hãy nhìn vào gương mặt này, vào cái hình người này, em sẽ hiểu chính Aphơrôđita còn chưa xứng đáng trở thành vợ ta, huống hồ nàng - Narơxít đáp và lại mê mẩn với vẻ đẹp của mình.
Đối với Ekhô cũng như đối với người đàn bà đội rắn trên đầu thay tóc, thì không có gì đáng giận hơn là việc người tình không thừa nhận sắc đẹp của nàng, còn nếu như nàng quả là không đẹp thì nàng cũng không thích bị lừa dối.


Những lời nói của Narơxít khiến Ekhô tức tối đến nỗi nàng gọi chàng là một kẻ ngu ngốc tự say đắm mình. Nàng liền đem chuyện này kể lại cho mẹ nàng nghe và nói rằng chàng đã bị mất trí. Kephít đã hoài công thuyết phục con trai quay trở lại thuỷ cung, và những giọt nước mắt cầu xin của người mẹ cũng trở thành vô nghĩa.
Narơxít đã ở lại hẳn trên bờ, và trong khi đưa mắt nhìn xuống nước, chàng vẫn không ngớt lải nhải về sắc đẹp của mình cho tới khi người chàng teo tóp lại và hoá thân về với trần thế.



Không hiểu vì sao đối với người chết, người đời lại tỏ ra bao dung, độ lượng hơn so với người đang sống.
Khi Narơxít chết rồi, Ekhô thường bơi đến chỗ có vùng nước tối mà người tình của nàng đã từng soi mình vào đó.
"Tình yêu của ta mới tuyệt diệu làm sao..." - Ekhô thở dài. Để giữ lại mãi mãi những kỷ niệm về Narơxít, nàng bèn trồng ngay lên chỗ đất chàng nằm một bông hoa có sắc trắng hệt như da mặt của Narơxít. Đó chính là Hoa Thủy Tiên.














http://www.odla.nu
http://agriviet.com
http://vietbao.vn
http://vi.wikipedia.org
http://cuocsongviet.com.vn

~ 9/11/09 0 nhận xét

1. Hoa mẫu đơn: Vua của muôn hoa





Hoa mẫu đơn tên khoa học: Paconie Suffruticosa
Thuộc họ thược dược, biệt danh: Lộc phỉ, Thử cô, Bạch truật, Bạch lượng kim, Mộc thược dược, Lan Dương hoa, Phú quí hoa, quốc sắc thiên hương, vương hoa...
Xuất xứ hoa từ cao nguyên Tây Bắc Trung Quốc, trong thung lũng Thiểm Cam Ninh, Sơn Cốc Ba quận thuộc dải Tần Linh, hiện nay trong vùng núi các tỉnh Thiểm Tây, Cam Túc, Tứ Xuyên, Hà Nam vẫn còn thấy có cây mọc hoang.




Hoa mẫu đơn là loại cây "lạc diệp quá mộc" (rụng lá mọc thành bụi) cao từ 1-2 mét, có khi đã cao đến 3 mét, phân cành nhánh nhiều, lá rộng bản, mọc đối thẳng đứng, hình trứng tròn, đầu lá có từ 3 đến 5 khía, cuống lá dài, co bộ toàn lục, bề mặt lá cung xanh lục, mặt trái màu tro lục, có phấn trắng, trơn nhẵn không lông hoặc có lông mịn nhỏ, hoa lưỡng tính mọc đơn trên đầu cành, đường kính từ 10 đến 30 cm, nhiều nhụy đực, toàn bộ bị hoa bàn bao vây, cánh nụ 5 màu lục, cánh hoa nguyên bản có từ 5 đến 6 cánh, trải qua thời gian di thực trồng một bộ phận nhụy đực biến thành cánh hoa, hoa trở thành cánh kép, có đến 3, 4 tầng. Số cánh hoa ít gọi là "đa diệp", hoa có các màu sắc từ trắng, vàng, đỏ, phấn, lục, tím, tím than, nhung... hoa kết thành trái chùm loại quả, có bẹ, chín nứt ra, gọi là loại quả "cốt đột" quả đầy lông mềm mịn, đến lúc chín quả nứt ra có chừng 5-15 hạt giống lớn hình móp méo không tròn, 1.000 hạt cân đuợc khoảng 250-300gr, nẩy mầm độ 60-90%, thời gian ra hoa thông thường tại Lạc Dương là tháng 4-5, tại Thuợng Hải là trung tuần tháng 4, tại Hà Trạch cũng trung tuần tháng 4, tại Bắc Kinh đến thượng tuần tháng 5 mới ra hoa...



Một giống của Paeonia lactiflora


Một số loài

Các loài thân thảo

Khoảng 30-35 loài thuộc dạng thân thảo, các tên gọi phổ biến là thược dược, xích thược (các loài có hoa đỏ), bạch thược (các loài có hoa trắng) v.v.

Paeonia abchasica
Paeonia anomala: thược dược lá hẹp

Paeonia anomala anomala: thược dược Tân Cương
Paeonia anomala veitchii: thược dược Veitch, Xuyên xích thược
Paeonia anomala thứ intermedia: khối căn thược dược

Paeonia brownii: thược dược Brown
Paeonia californica: thược dược California
Paeonia cambessedesii
Paeonia caucasica
Paeonia clusii
Paeonia coriacea
Paeonia daurica
Paeonia emodi
: thược dược nhiều hoa
Paeonia hirsuta
Paeonia japonica
: thược dược Nhật Bản
Paeonia kesrouanensis: thược dược Syria
Paeonia lactiflora: thược dược Trung Quốc, thược dược, bạch thược

Paeonia lactiflora thứ trichocarpa: thược dược quả lông

Paeonia macrophylla
Paeonia mairei
: thược dược mĩ lệ
Paeonia mascula: thược dược Balkan
Paeonia mlokosewitschii: thược dược vàng
Paeonia obovata: thảo thược dược

Paeonia obovata obovata: thảo thược dược
Paeonia obovata willmottiae: nghĩ thảo thược dược
Paeonia obovata thứ willmottiae: thảo thược dược lá lông


Paeonia officinalis: thược dược châu Âu
Paeonia parnassica: thược dược Hy Lạp
Paeonia peregrina
Paeonia rhodia
Paeonia sinjiangensis
: xích thược Tân Cương
Paeonia sterniana: thược dược hoa trắng
Paeonia steveniana
Paeonia tenuifolia
Paeonia tomentosa
Paeonia veitchii
(nếu coi là một loài riêng): Xuyên xích thược

Paeonia veitchii thứ leicoarpa: xích thược vỏ quả bóng
Paeonia veitchii thứ uniflora: xích thược đơn hoa
Paeonia veitchii thứ woodwardii: xích thược lông

Paeonia wittmanniana


Giống hoa kép 'Rubra Plena' của Paeonia officinalis

Các loài thân gỗ

Khoảng 10 loài thân gỗ, tên gọi chung là mẫu đơn.

Paeonia decomposita: mẫu đơn Tứ Xuyên

Paeonia decomposita decomposita: mẫu đơn Tứ Xuyên
Paeonia decomposita rotundiloba: mẫu đơn Tứ Xuyên thùy tròn

Paeonia delavayi: mẫu đơn dại, mẫu đơn Delavay

Paeonia delavayi thứ angustiloba: mẫu đơn lá hẹp
Paeonia delavayi thứ lutea: mẫu đơn vàng

Paeonia jishanensis, đồng nghĩa: Paeonia spontanea: mẫu đơn Jishan, mẫu đơn lùn
Paeonia ludlowii: mẫu đơn vàng hoa lớn, mẫu đơn Ludlow
Paeonia ostii: phượng đơn, mẫu đơn Osti
Paeonia potaninii
Paeonia qiui: mẫu đơn lá trứng, mẫu đơn Qiu
Paeonia rockii: mẫu đơn tử ban, mẫu đơn Rock

Paeonia rockii rockii: mẫu đơn tử ban
Paeonia rockii taibaishanica: mẫu đơn tử ban Thái Bạch Sơn

Paeonia suffruticosa: mẫu đơn, mẫu đơn Suffruticosa (có lẽ có nguồn gốc lai ghép)

Paeonia suffruticosa suffruticosa: mẫu đơn
Paeonia suffruticosa yinpingmudan: mẫu đơn Ngân Bình
Paeonia suffruticosa thứ papaveracea: mẫu đơn tử ban
Paeonia suffruticosa thứ spontanea mẫu đơn lùn

Paeonia szechuanica: mẫu đơn Tứ Xuyên



Tập tính của hoa mẫu đơn:

Hoa mẫu đơn do trong thời gian sinh trưởng kéo dài từ mùa xuân khô ráo, hè thu ấm áp đến mùa đông lạnh lẽo, với điều kiện tự nhiên như vậy, kinh qua hệ thống phát dục trải dài năm tháng, nên dần dần hình thành tập tính: "Chịu lạnh sợ nóng, ưa ráo, ghét ẩm", nên từ hoang dại di thực vào Lạc Dương, Hà Trạch nuôi trồng, gặp đúng điều kiện khí tiết hai nơi này rất thích hợp, nên ngày càng phát triển mạnh. Vị trí Lạc Dương ở đúng ngay vĩ độ Bắc 34,4 độ hàng năm khí hậu ôn hoà, nhiệt độ bình quân 15,7 độ C, lượng mưa bình quân 610,2 mm, mùa đông không lạnh gắt, hè không nóng cháy, quanh năm mưa thuận gió hòa... Vị thế của Hà Trạch cũng ở vào Bắc vĩ độ 35,20 độ, khí hậu tương cận với Lạc Dương, không chênh lệch mấy. Điều kiện tự nhiên hai nơi này đặc biệt thích nghi cho sự sinh truởng của hoa mẫu đơn.

Đất thích hợp cho cây mẫu đơn phải ở nơi có tầng đất sâu, dày, tơi xốp, màu mỡ, loại đất mềm thoát nước hoặc đất cát tốt, tốt nhất tầng đất mềm dẻo bên trên, dày độ 1 mét, bên duới tầng đất pha cát. Loại cây này không thích hợp với đất mặn, muối hoặc đất nóng.



Hiện nay tại các miền Nam, Bắc Trung Quốc đều có nuôi trồng hoa mẫu đơn, có thể nói độ ẩm đối với điều kiện sinh tồn chủ yếu của loại hoa này không ảnh huởng mấy, mà độ nóng (bao gồm độ nóng của đất) đối với mẫu đơn phản ứng rất là mẫn cảm, hoa mẫu đơn thích hợp với địa thế cao ráo, tầng đất sâu dày, thoát nước tốt, rất sợ úng nước nhất là vào mùa hè, mưa to nuớc



Ý nghĩa - Biểu tượng
Mẫu đơn là loài hoa vương giả sang trọng ở Trung Quốc biểu tượng cho sự giàu có, thịnh vượng, sắc đẹp. Ở Nhật Bản, Mẫu Đơn tượng trưng cho cuộc hôn nhân hạnh phúc với nhiều con cháu. Còn trong ngôn ngữ loài hoa phương Tây, nhờ những đặc tính y học tuyệt vời, Mẫu đơn còn được xem như một loại dược thảo chữa bệnh và mang ý nghĩa "sự e lệ".



Biểu tượng và sử dụng

Hoa mẫu đơn là một trong số các hoa đã được sử dụng lâu nhất trong văn hóa trang trí và là một trong các biểu trưng quốc gia của Trung Quốc. Cùng với hoa mai, nó là biểu tượng thực vật truyền thống của quốc gia này, tại đây người ta gọi nó là 牡丹 (mẫu đơn). Năm 1903, nhà Thanh tuyên bố rằng mẫu đơn là quốc hoa. Hiện nay, Trung Hoa dân quốc tại Đài Loan đã chọn hoa mai (Prunus mume) là quốc hoa, trong khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không có quốc hoa chính thức. Năm 1994, hoa mẫu đơn đã được đề nghị làm quốc hoa sau một cuộc trưng cầu dân ý khắp toàn quốc, nhưng Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc đã thất bại trong việc thông qua sự lựa chọn này. Năm 2003, một quá trình lựa chọn khác cũng đã được bắt đầu, nhưng cho tới năm 2006 thì vẫn chưa có sự chọn lựa nào được đưa ra.



Thành phố cổ nổi tiếng Lạc Dương của Trung Quốc có danh tiếng như là trung tâm nuôi trồng các loài mẫu đơn. Trong lịch sử Trung Quốc, mẫu đơn của Lạc Dương luôn được coi là đẹp nhất. Hàng loạt các cuộc triển lãm hoa mẫu đơn cũng được tổ chức ở đây hàng năm.

Tại Nhật Bản, Paeonia lactiflora đã từng được gọi là ebisugusuri ("y học ngoại quốc"). Trong hán phương (sự sửa đổi lại của y học cổ truyền Trung Hoa cho thích hợp với Nhật Bản), rễ của các loài mẫu đơn được dùng để điều trị chứng co giật. Nó cũng được trồng làm cây cảnh. Người ta cũng cho rằng Paeonia lactiflora là "vua của các loài hoa".

Mẫu đơn cũng là loài hoa biểu trưng của bang OpenDNS, Mỹ. Năm 1957, Quốc hội bang Indiana đã thông qua một đạo luật để cho hoa mẫu đơn trở thành hoa biểu trưng của bang. Nó thay thế cho cúc zinnia là loài hoa biểu trưng của bang này từ năm 1931.

Các loài mẫu đơn có xu hướng thu hút kiến tới các nụ hoa. Đó là do mật hoa được tạo ra ở bên ngoài các nụ hoa này.


Mẫu đơn lai

Sự tích hoa mẫu đơn
Ngày xưa... ở một làng miền núi có một bà mẹ. Bà mẹ sinh được mười người con trai. Làng của mẹ bị giặc chiếm đóng. Người cha của mười anh con trai bị giặc giết ngay từ ngày đầu tiên, khi chúng tiến vào làng. Mười người con trai của bà vào đội quân chống giặc ở trong núi. Người con trai cả là chủ tướng của đội quân. Đội quân nay đã làm cho bọn giặc thất điên bát đảo. Đã nhiều lần giặc mở những trận càn quét mà không sao tiêu diệt được đội quân của cái làng bé nhỏ ấy.

Tên tướng giặc sai quân bắt bà mẹ đến, hắn bảo:

- Này mụ già, mụ hãy khuyên các con mụ trở về. Ta sẽ cho con mụ làm tướng. Bằng không, ta sẽ giết mụ.

Bà mẹ nhìn thẳng vào mắt tên tướng giặc, nói lớn:

- Hỡi quân độc ác! Hẳn nhà ngươi cũng có một bà mẹ. Mẹ ngươi chắc không bao giờ dạy người phản bội lại quê hương. Là một người chân chính, ta cũng không thể dạy các con ta phản bội lại quê nhà.



Bọn giặc trói mẹ trên một ngọn đồi rồi cho quân mai phục hòng bắt được những người con của mẹ đến cứu. Chúng bảo bà mẹ hãy đứng dậy mà gọi con, chúng sẽ tha. Tiếng người mẹ:

- Hỡi các con của mẹ! Hỡi những người con của quê hương. Ta nhân danh người mẹ, ra lệnh cho các con không được vì ta mà phản bội quê hương.

Mệnh lệnh của người mẹ là mệnh lệnh trái tim, mệnh lệnh của tình yêu vĩ đại. Mệnh lệnh đó lan khắp núi rừng. Bọn giặc run sợ. Những người con của mẹ thì thêm sức mạnh chiến đấu. Giặc bịt miệng bà mẹ. Chúng đổ nhựa thông và nhựa trám lên đầu bà và châm lửa đốt. Ngọn lửa cháy sáng cả một vùng...

Khi bọn giặc đi rồi, dân làng lên đồi tìm chỗ bà mẹ bị hành hình, người ta thấy trái tim của người mẹ vẫn nguyên vẹn và nóng bỏng. Dân làng chôn mẹ ngay trên đỉnh đồi. Đêm đêm, từ ngôi mộ, trái tim mẹ vẫn phát sáng cả một vùng trời.

Mùa xuân đến. Từ ngôi mộ, trái tim ấy mọc lên một cái cây. Cây ra hoa. Bông hoa đỏ chót hình ngọn lửa bốc lên từ trái tim người mẹ. Và cũng từ ngày ấy có một loại hoa mang tên Mẫu Đơn. Cây hoa tượng trưng cho người mẹ đã chiến đấu bằng một trái tim.



Bách khoa toàn thư tuổi trẻ thiên nhiên và môi trường, NXB phụ nữ, 2005
http://rauhoaquavietnam.vn/default.aspx?ID=47&LangID=1&tabID=5&NewsID=3392
http://congngheso.info/diendan/giao-duc/446878-10-loai-hoa-noi-tieng-nhat-cua-trung-quoc-phan-1-a.html)

~ 3/10/09 2 nhận xét